Hợp đồng lao động không trọn thời gian là hợp đồng loại gì và có phải hợp đồng cộng tác viên?

Cách đây đúng 10 năm, tôi có viết bài với chủ đề: "Hợp đồng cộng tác viên là hợp đồng loại gì và có phải hợp đồng lao động ?". Trong bài có viết nhận định:

“Hợp đồng dịch vụ là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ, còn bên thuê dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ. Như vậy theo các quy định trên, hợp đồng cộng tác viên được xem là hợp đồng dịch vụ, trong đó, bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc là cộng tác viên và bên thuê dịch vụ là bên nhận cộng tác viên làm việc, đồng thời phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ này."

Cho tới thời điểm này, cơ quan thuế vẫn chấp nhận hợp đồng CTV là hợp đồng dịch vụ nếu thỏa mãn điều kiện như trong bài: "Giấy tờ cần có khi làm hợp đồng dịch vụ, thuê khoán". Cụ thể điều kiện: Khoản chi phí nêu trên được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp thì phải đáp ứng các quy định tại Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC và có các chứng từ cụ thể:
+ Hợp đồng giao khoán;
+ Biên bản thanh lý hợp đồng;
+ Căn cước công dân của người lao động;
+ Biên bản nghiệm thu sản lượng hoặc biên bản xác nhận công việc hoàn thành;
+ Bảng chấm công;
+ Bảng kê thu mua hàng hóa, dịch vụ mua vào theo mẫu số 01/TNDN;
+ Chứng từ chi tiền;
+ Chứng từ khấu trừ thuế TNCN.

Tuy nhiên, thời điểm hiện tại cơ quan BHXH đã không công nhận hợp đồng cộng tác viên là hợp đồng dịch vụ. Chi tiết nội tình được tôi viết tại bài: "Căn cứ vào quy định nào quy các loại hợp đồng dịch vụ cộng tác viên về các loại hợp đồng lao động?". Điều 156 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 (vẫn còn hiệu lực cho đến 2026) quy định:
- Nếu "luật con" (văn bản có hiệu lực pháp lý thấp hơn, ví dụ: Nghị định, Thông tư, hoặc Luật chuyên ngành) mâu thuẫn với "luật mẹ" (văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn, ví dụ: Hiến pháp, Bộ luật, Luật chung) thì sẽ áp dụng theo luật mẹ.
- Trong trường hợp cả hai văn bản đều là "Luật" (cùng cấp hiệu lực pháp lý) nhưng có sự mâu thuẫn, việc áp dụng sẽ dựa vào: Nếu một luật là luật chung (ví dụ: Bộ luật Dân sự) và một luật là luật chuyên ngành (ví dụ: Luật BHXH), thông thường quy định của luật chuyên ngành sẽ được ưu tiên áp dụng đối với quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của luật đó.

Như vậy: "Nhưng giờ BHXH (như mình được biết ở Hà Nội, các cơ quan BHXH đang quy hết các loại hợp đồng nếu không phải: Thử việc, hợp đồng lao động trọn thời gian, hợp đồng học nghề thì sẽ là hợp đồng không trọn thời gian) không đồng ý và coi đó là hợp đồng lao động không trọn thời gian và yêu cầu đóng BHXH nếu có thu nhập >mức cơ sở."

Vừa rồi, trên cộng đồng tôi thấy có bạn hỏi thế này: "Bên e có đóng BHXH cho CTV , khoản mục này e ghi như này hợp lý chưa ạ. Bên e thì trả 200,300k/ca 2 tiếng. Nhưng theo e biết mức đóng BHXH là mức lương cơ bản nên e k biết ghi chỗ này như nào. Mọi người góp ý giúp e với".

Theo như tôi viết ở trên: Khi CTV của hợp đồng không trọn thời gian có thu nhập trong tháng >2,5 triệu (mức cơ sở) thì sẽ đóng BHXH theo mức lương ghi trên hợp đồng. Vì thế tôi sẽ ghi:
- Mức lương căn cứ để đóng BHXH: 2,53 triệu
- Thu nhập thực tế:
+ Tính theo số ca thực hiện công việc (livestream).
+ Số tiền nhận được sau 1 ca: 200k

Từ câu hỏi này, tôi tin mọi người chắc cũng quan tâm tới mẫu hợp đồng lao động không trọn thời gian. Xin gửi cả nhà mẫu các hợp đồng cộng tác viên:
- NS - 21 - BM01 - Hop dong cung cap dich vu ve sinh - Bien ban nghiem thu
- NS - 21 - BM01 - Hop dong cung cap dich vu ve sinh
- NS - 21 - BM01 - Mau hop dong Dich vu lao dong
- NS - 21 - BM01 - Hop dong thue chuyen gia
- NS - 21 - BM01 - Hop dong thoi vu mau thuvienphapluat

Sau khi tải các hợp đồng này về, bạn sửa lại một chút theo nội dung ở ở trên nhé. Cụ thể cần có mấy dòng:
+ Thời gian làm việc linh hoạt không trọn thời gian.
+ Mức lương căn cứ để đóng BHXH.
+ Thu nhập thực tế.

Bạn cũng đừng quá quan trọng nội dung trong hợp đồng CTV viết như thế nào thì cứ ra cơ quan BHXH là sẽ bị quy về hợp đồng lao động. Nếu trong nội dung hợp đồng, công ty không quản về thời gian, không yêu cầu nhân viên làm cố định cả tháng thì là không trọn thời gian.

Lưu ý: Trong bài "Hợp đồng lao động không trọn thời gian có đóng BHXH không?", tôi đã đưa ra căn cứ công văn số 351 hướng dẫn thu BHXH có viết rõ: Người làm việc không trọn thời gian
- Tiền lương tháng làm căn cứ đóng: Là tiền lương tính trong tháng theo thỏa thuận trong HĐLĐ, bao gồm: mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác theo quy định.
Đối với người lao động (NLĐ) hưởng lương theo thời gian (giờ, ngày, tuần), tiền lương tháng làm căn cứ đóng được xác định như sau:
+ Tiền lương tháng = Tiền lương giờ x Tổng số giờ làm việc trong tháng theo thỏa thuận trong HĐLĐ.
+ Tiền lương tháng = Tiền lương ngày x Tổng số ngày làm việc trong tháng theo thỏa thuận trong HĐLĐ.
+ Tiền lương tháng = Tiền lương tuần x Tổng số tuần làm việc trong tháng theo thỏa thuận trong HĐLĐ

Ví dụ như hợp đồng không trọn thời gian ở trên nếu có điều khoản một tháng phải làm bao nhiêu ca thì lấy số tiền 200k * số ca thống nhất trên hợp đồng để làm căn cứ đóng BHXH.

Nguyễn Hùng Cường

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *