Đôi khi trong cuộc đời làm nhân sự và làm sếp, chúng ta sẽ gặp phải những người đặc biệt. Đặc biệt có thể theo nghĩa tốt hoặc không tốt nhưng điều đó không quan trọng. Quan trọng là chính vì đặc biệt nên có thể người đó không phù hợp với tổ chức. Và sếp muốn anh ta nghỉ ngay lập tức. Nhưng lẽ đời đâu như ý muốn. Người nhân viên đó lại cứng đầu và biết luật lao động. Giờ phải làm sao?
Có thể bài toán này, ai làm nhân sự sẽ gặp ít nhất 1 lần trong đời: nhân viên thử việc 2 tháng, ký hợp đồng lao động 1 năm, giờ đã làm việc được hơn 6 tháng thì sếp muốn đuổi việc. Vậy nhân sự sẽ phải làm sao ?
Lời giải cho bài toán đó là:
Tốt nhất lúc này, sếp hoặc nhân sự nên ngồi lại trực tiếp với người lao động và thỏa thuận với họ để họ tự viết đơn xin thôi việc. Thỏa thuận thế nào, nói ra sao thì sẽ là võ của từng người. Thường thì trước khi đi vào vòng đối đầu này, chúng ta sẽ phải bày bình bố trận giống như thế này: “Dấu hiệu sếp ghét – đi thôi chứ ở lại làm gì ?”
Có 8 cách hay dùng để đưa ra tín hiêu cho nhân viên và phổ biến nhất là chỉ ra lỗi thường xuyên hơn trong quá trình làm việc.
Áp dụng theo cách của Seabank cũng hay: “Thư tố cáo Nhân sự ngân hàng Seabank hoặc Đơn khiếu kiện vi phạm hợp đồng lao động của NGÂN HÀNG VIỆT NAM THƯƠNG TÍN”
Trong bức thư này, có một số cách sau mà nhân sự dọa sẽ áp dụng:
1. Chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động
Điều 29 - luật lao động 2019. Chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động
"1. Khi gặp khó khăn đột xuất do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, áp dụng biện pháp ngăn ngừa, khắc phục tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, sự cố điện, nước hoặc do nhu cầu sản xuất, kinh doanh thì người sử dụng lao động được quyền tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động nhưng không được quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong 01 năm; trường hợp chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong 01 năm thì chỉ được thực hiện khi người lao động đồng ý bằng văn bản.
Người sử dụng lao động quy định cụ thể trong nội quy lao động những trường hợp do nhu cầu sản xuất, kinh doanh mà người sử dụng lao động được tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động.
2. Khi tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước ít nhất 03 ngày làm việc, thông báo rõ thời hạn làm tạm thời và bố trí công việc phù hợp với sức khỏe, giới tính của người lao động.
3. Người lao động chuyển sang làm công việc khác so với hợp đồng lao động được trả lương theo công việc mới. Nếu tiền lương của công việc mới thấp hơn tiền lương của công việc cũ thì được giữ nguyên tiền lương của công việc cũ trong thời hạn 30 ngày làm việc. Tiền lương theo công việc mới ít nhất phải bằng 85% tiền lương của công việc cũ nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu.
4. Người lao động không đồng ý tạm thời làm công việc khác so với hợp đồng lao động quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong 01 năm mà phải ngừng việc thì người sử dụng lao động phải trả lương ngừng việc theo quy định tại Điều 99 của Bộ luật này."
Hoặc 2. đưa người lao động vào thế phải đơn phương chấp dứt hợp đồng lao động:
Điều 35 - Luật 2019. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động
"1. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động như sau:
a) Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
b) Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;
c) Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng;
d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.
2. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước trong trường hợp sau đây:
a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này;
b) Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này;
c) Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;
d) Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;
đ) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này;
e) Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;
g) Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động."
Chú ý, áp dụng mấy cái này cẩn thận lại dính vào luật khác như hình sự chả hạn.
3. Sử dụng các quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đúng luật. Trong trường hợp người lao động lại nhất quyết không viết đơn xin thôi việc và nắm luật, vậy thì phải làm sao? Nếu nắm rõ luật thì chúng ta sẽ áp dụng theo luật.
Điều 36. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động
"1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp sau đây:
a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động được xác định theo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của người sử dụng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc do người sử dụng lao động ban hành nhưng phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở;
b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.
Khi sức khỏe của người lao động bình phục thì người sử dụng lao động xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động với người lao động;
c) Do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc;
d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 31 của Bộ luật này;
đ) Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;
e) Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên;
g) Người lao động cung cấp không trung thực thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật này khi giao kết hợp đồng lao động làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng người lao động.
2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, đ và g khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải báo trước cho người lao động như sau:
a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;
c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng và đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;
d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.
3. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động quy định tại điểm d và điểm e khoản 1 Điều này thì người sử dụng lao động không phải báo trước cho người lao động."
Chú ý:
- Nếu chúng ta dựa vào lý do thay đổi cơ cấu, chia tách sát nhập doanh nghiệp (Điều 42. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế và Điều 43. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, hợp tác xã) thì chúng ta sẽ phải:
Điều 47 - luật 2019. Trợ cấp mất việc làm
"1. Người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm theo quy định tại khoản 11 Điều 34 của Bộ luật này, cứ mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương.
2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm.
3. Tiền lương để tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động mất việc làm.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này."
- Với lý do vi phạm kỷ luật (vi phạm nội quy) để sa thải thì trình tự sẽ làm như sau:
Điều 122. Nguyên tắc, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật lao động
"1. Việc xử lý kỷ luật lao động được quy định như sau:
a) Người sử dụng lao động phải chứng minh được lỗi của người lao động;
b) Phải có sự tham gia của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở mà người lao động đang bị xử lý kỷ luật là thành viên;
c) Người lao động phải có mặt và có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc tổ chức đại diện người lao động bào chữa; trường hợp là người chưa đủ 15 tuổi thì phải có sự tham gia của người đại diện theo pháp luật;
d) Việc xử lý kỷ luật lao động phải được ghi thành biên bản.
2. Không được áp dụng nhiều hình thức xử lý kỷ luật lao động đối với một hành vi vi phạm kỷ luật lao động.
3. Khi một người lao động đồng thời có nhiều hành vi vi phạm kỷ luật lao động thì chỉ áp dụng hình thức kỷ luật cao nhất tương ứng với hành vi vi phạm nặng nhất.
4. Không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động đang trong thời gian sau đây:
a) Nghỉ ốm đau, điều dưỡng; nghỉ việc được sự đồng ý của người sử dụng lao động;
b) Đang bị tạm giữ, tạm giam;
c) Đang chờ kết quả của cơ quan có thẩm quyền điều tra xác minh và kết luận đối với hành vi vi phạm được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 125 của Bộ luật này;
d) Người lao động nữ mang thai; người lao động nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
5. Không xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động vi phạm kỷ luật lao động trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.
6. Chính phủ quy định trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật lao động."
Và công ty sẽ đuổi việc nhân viên khi:
Điều 125 - luật 2019. Áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải
"Hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong trường hợp sau đây:
1. Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy tại nơi làm việc;
2. Người lao động có hành vi tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động hoặc quấy rối tình dục tại nơi làm việc được quy định trong nội quy lao động;
3. Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương hoặc cách chức mà tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật. Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 126 của Bộ luật này;
4. Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong thời hạn 30 ngày hoặc 20 ngày cộng dồn trong thời hạn 365 ngày tính từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng.
Trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm thiên tai, hỏa hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động."
Quy trình xử lý kỷ luật thì cả nhà download tại đây: Mẫu quy trình xử lý kỷ luật
- Với lý do không hoàn thành nhiệm vụ thì cần có chứng minh.
4. Còn nếu chấm dứt, đuổi, cho nhân viên nghỉ việc ngay lập tức trái luật thì:
Chúng ta cần biết thế nào là chấm dứt hợp đồng lao động trái luật.
Điều 39. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
"Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy định tại các điều 35, 36 và 37 của Bộ luật này."
Điều 35 , 36 thì đã được viết ở trên còn Điều 37. Trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
"1. Người lao động ốm đau hoặc bị tai nạn, bệnh nghề nghiệp đang điều trị, điều dưỡng theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 36 của Bộ luật này.
2. Người lao động đang nghỉ hằng năm, nghỉ việc riêng và trường hợp nghỉ khác được người sử dụng lao động đồng ý.
3. Người lao động nữ mang thai; người lao động đang nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi."
Khi đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật thì người sử dụng lao động sẽ: Điều 41. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
"1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết; phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
Sau khi được nhận lại làm việc, người lao động hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận của người sử dụng lao động.
Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì hai bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.
Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước quy định tại khoản 2 Điều 36 của Bộ luật này thì phải trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.
2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc thì ngoài khoản tiền phải trả quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này để chấm dứt hợp đồng lao động.
3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền người sử dụng lao động phải trả theo quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động."
Điều 46. Trợ cấp thôi việc
"1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 9 và 10 Điều 34 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương, trừ trường hợp đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 36 của Bộ luật này.
2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm.
3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động thôi việc.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này."
Đấy, để đuổi việc một nhân viên nó là như thế! Một bài viết dài lê thê và phải là người thực sự quan tâm mới đọc được đến tận cuối này. Tóm lại thì:
Muốn đuổi việc nhân viên:
- Đầu tiên áp dụng một số biện pháp tiểu xảo để ra tín hiệu.
- Bước tiếp theo: là thuyết phục họ tự xin thôi việc
- Trường hợp thuyết phục không thành công thì chúng ta vào bước 3 :
+ Đưa nhân viên vào thế bị buộc thôi việc đúng luật (không hoàn thành công việc, nhân viên nghỉ liên tiếp 5 ngày, bị xử lý kỷ luật, tái cơ cấu công ty do kinh tế, sát nhập chia tách công ty). Chú ý với 2 lý do sau thì phải trợ cấp mỗi năm làm việc là 1 tháng lương nhưng ít nhất là 2 tháng lương (đối với những người làm trên 12 tháng), nhưng thời gian lại trừ đi thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp.
+ Hoặc cứ đuổi và bồi thường (như ở trên, ít nhất 2 tháng lương theo hợp đồng + số tiền lương trong thời gian tranh chấp + 2 tháng lương bồi thường).
Nói chung là chỉ có 3 cách là không phải trả tiền (không hoàn thành công việc, nhân viên nghỉ liên tiếp 5 ngày, bị xử lý kỷ luật) nhưng phải chứng minh được và phải có quy trình.
[Update 15/3/26] Thời điểm này luật lao động đã đang áp dụng là 2019, nhưng nội dung ở trên là không thay đổi. Tôi đã đọc lại nội dung. Bạn cứ yên tâm áp dụng.
[Hết update]
[Update 17/3/26] Tôi đã rà lại cả bài và update theo luật 2019[Hết update]
Nguyễn Hùng Cường







![[Case]Tình huống cho nghỉ việc ngay trước 30 ngày đúng luật](https://blognhansu.net.vn/wp-content/uploads/2018/05/Tinh-huong-cho-thoi-viec-75x75.png)

Về việc muốn cho nhân viên nghỉ việc có thể sử dụng cách giao việc khó, làm không được gọi lên cho uống nước chè. Vài tuần liên tiếp như vậy nhân viên automatic out là nằm trong tầm tay.
Kính gửi!
Hiện Công ty em muốn cho 01 lao động nghỉ việc vì thường xuyên không giữ kỷ luật lao động, đã nhắc nhở nhiều, công việc thì chậm chễ và hay trốn tránh công việc. Vậy bên em có được đơn phương chấm dứt hợp đồng không? Và nếu chấm dứt hợp đồng có phải trợ cấp khoản nào cho người lao động không ạ?
Đôi khi cảm thấy tội lỗi khi mà phải làm những việc tiểu xảo thế này. Sợ tích nghiệp cho con cháu, sợ sau này vì bị người lao động oán thán. Rõ ràng ko phải là quyết định của mình nhưng mình đã tư vẫn và tiếp tay cho tổ chức. Có những ngươi đáng bị sa thải, nhưng có những người làm việc tốt nhưng vẫn bị trong tầm ngắm. Mình giờ chỉ thích làm tuyển dung, đào tạo, những mảng việc ko tích nghiệp này.
Tôi phải làm gì khi công ty chấm dứt hợp đồng lao động khi đang mang thai tháng thứ 6, với lý do thường xuyên không hoàn thành công việc được giao. Hợp đồng của tôi là không thời gian nhưng bọn chúng đã cố áp đảo tôi liên tục trong mấy tháng trước khi ra quyết định. Bụng to mà bị đuổi vì chúng nó ghét mà thấy tủi thân quá.
bạn đã viết bị dụ viết đơn thôi việc chưa? nếu viết rồi thì bó tay. Nếu ko viết mà công ty đã cho nghỉ rồi thì thong thả sanh con xong rồi nộp đơn kiện là vừa. Bạn tham khảo quy trình kiện ở phía trên nhé!
“Chú ý với 2 lý do sau thì phải trợ cấp mỗi năm làm việc là 1 tháng lương nhưng ít nhất là 2 tháng lương (đối với những người làm trên 12 tháng), nhưng thời gian lại trừ đi thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp – điều 49.”
Em chưa hiểu đoạn này lắm. Mong anh/chị giải thích giúp em ạ!
Ví dụ: Bạn đi làm 12 tháng nhưng được đóng BHTN 10 tháng thì còn lại 2 tháng chưa đóng. 2 tháng đó công ty phải trợ cấp mất việc.
Pingback: Muốn đuổi việc ngay nhưng không muốn rắc rối pháp lý (đúng luật) ? | Blog quản trị Nhân sự
Anh chị chia sẻ giúp em
Trường hợp lao động là người nước ngoài, thỏa thuận hợp đồng cũng như luật là không có đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp thì khi công ty buộc thôi việc mà không có lý do chính đáng hoặc người lao động từ chối biên bản vi phạm kỷ luật, thì công ty có phải đền hợp đồng và đóng trợ cấp thôi việc không ạ ? Theo em thấy thì các mâu thuẫn lao động có liên quan đến lao động nước ngoài có nhiều phần còn thiệt thòi cho lao động nước ngoài trong khi khoản thuế tncn và tiền đóng bảo hiểm y tế của họ là không nhỏ. Em mong ý kiến đóng góp từ anh chị. Em cám ơn ạ.
Công ty em có 01 lao động nghỉ ốm đau dài ngày từ tháng 12/2017 đến nay 04/2018. Công ty không thể liên hệ được với nhân viên này và sếp em muốn chấm dứt hợp đồng lao động xác định thời hạn với nhân viên này để giảm BHXH. Em không biết làm sao để chấm dứt HĐLĐ đúng luật.
Anh cho em xin gợi ý về vấn này đề ạ. Em cảm ơn
Chị vui lòng cho hỏi lao động đó có xin nghỉ không?