Trong vài năm gần đây, doanh nghiệp bắt đầu sử dụng lại khá nhiều lao động cao tuổi:
• kế toán trưởng nghỉ hưu quay lại hỗ trợ,
• chuyên gia, cố vấn tiếp tục làm việc sau tuổi nghỉ hưu,
• hoặc nhân sự nhiều kinh nghiệm được giữ lại để đào tạo và vận hành.
Tuy nhiên, đây cũng là nhóm đối tượng khiến nhiều HR và C&B xử lý sai:
• hiểu sai nghĩa vụ BHXH,
• hoặc dùng HĐDV để “né” quan hệ lao động.
Đặc biệt, rất nhiều doanh nghiệp vẫn đang hiểu rằng: > “Chỉ cần quá tuổi nghỉ hưu là không cần đóng BHXH nữa”
Thực tế, đây là một hiểu nhầm khá phổ biến.
Cần phân biệt 2 trường hợp hoàn toàn khác nhau
1. Người lao động đã đến tuổi nghỉ hưu nhưng CHƯA hưởng lương hưu
Theo Điều 169 Bộ luật Lao động 2019, người lao động khi đáp ứng điều kiện về tuổi sẽ đạt độ tuổi nghỉ hưu theo lộ trình của pháp luật.
Tuy nhiên, việc “đủ tuổi nghỉ hưu” không đồng nghĩa với việc đã hưởng chế độ hưu trí.
• nhưng chưa đủ số năm đóng BHXH,
• hoặc chưa làm thủ tục hưởng lương hưu.
Theo khoản 1 Điều 2 Luật BHXH 2014: > Người làm việc theo HĐLĐ từ đủ 1 tháng trở lên thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc.
Do đó, nếu người lao động:
• và thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc,
thì doanh nghiệp vẫn phải đóng BHXH bình thường.
Đây là lỗi rất nhiều doanh nghiệp đang gặp phải khi:
• chuyển sang ký HĐ cộng tác viên,
• hoặc ký HĐDV để giảm chi phí.
Nếu bị thanh tra, doanh nghiệp có thể:
• xử phạt vi phạm hành chính.
2. Người lao động đã hưởng lương hưu hàng tháng
Theo khoản 9 Điều 123 Luật BHXH 2014: > Người đang hưởng lương hưu không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc.
Ngoài ra, theo khoản 3 Điều 168 Bộ luật Lao động 2019: > Người lao động đang hưởng lương hưu mà làm việc theo HĐLĐ thì ngoài quyền lợi đang hưởng theo chế độ hưu trí, còn được người sử dụng lao động trả thêm một khoản tương đương mức đóng BHXH, BHYT, BHTN theo quy định.
• doanh nghiệp vẫn có thể ký HĐLĐ với người đã nghỉ hưu,
• nhưng không phải đóng BHXH bắt buộc và BHTN cho đối tượng này.
Đây cũng là điểm nhiều HR hiểu sai khi cho rằng: “Người nghỉ hưu rồi thì không được ký HĐLĐ nữa”
Thực tế, pháp luật vẫn cho phép sử dụng lao động cao tuổi.
Người lao động cao tuổi được ký loại hợp đồng nào?
Theo khoản 1 Điều 149 Bộ luật Lao động 2019: > Khi có nhu cầu, người sử dụng lao động có thể thỏa thuận với người lao động cao tuổi để kéo dài thời hạn HĐLĐ hoặc giao kết nhiều lần HĐLĐ xác định thời hạn.
Đây là điểm khá đặc biệt.
• HĐLĐ xác định thời hạn chỉ được ký tối đa 2 lần.
Tuy nhiên, đối với lao động cao tuổi:
• doanh nghiệp được phép ký nhiều lần HĐLĐ xác định thời hạn.
Điều này giúp doanh nghiệp linh hoạt hơn khi:
• giữ lại nhân sự nhiều kinh nghiệm,
• hoặc sử dụng lao động bán thời gian sau nghỉ hưu.
Có nên ký HĐDV để tránh BHXH?
Đây là rủi ro phổ biến nhất hiện nay.
Nhiều doanh nghiệp cho rằng: > “Người lớn tuổi hoặc đã nghỉ hưu thì ký HĐDV cho đơn giản”
Tuy nhiên, cơ quan BHXH và thanh tra lao động không chỉ nhìn tên hợp đồng, mà sẽ xem bản chất công việc thực tế.
Theo Điều 13 Bộ luật Lao động 2019: > Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện việc làm có trả công, chịu sự quản lý, điều hành, giám sát thì vẫn được xem là HĐLĐ.
• tham gia vận hành như nhân viên bình thường,
thì dù gọi là “HĐDV”, vẫn có thể bị xác định là quan hệ lao động.
TH1: Lao động quá tuổi nhưng chưa đủ năm đóng BHXH
• nhưng mới đóng BHXH được 17 năm,
• tiếp tục làm việc thêm để đủ điều kiện hưởng lương hưu.
Doanh nghiệp cho rằng: > “Đã quá tuổi thì không cần đóng BHXH nữa”
Đây là cách xử lý sai khá phổ biến.
• vẫn làm việc theo quan hệ lao động,
• nên vẫn thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc.
TH2: Người đã hưởng lương hưu quay lại làm việc
• đang hưởng lương hưu hàng tháng,
• được công ty mời quay lại làm part-time.
• doanh nghiệp không phải đóng BHXH bắt buộc,
• nhưng vẫn nên ký HĐLĐ rõ ràng để quản lý trách nhiệm công việc.
Nhiều doanh nghiệp chủ quan vì nghĩ: > “Người quen hỗ trợ thôi nên không cần hợp đồng”
• hoặc trách nhiệm pháp lý,
thì lại không có căn cứ để xử lý.
Trong bối cảnh dân số già hóa và doanh nghiệp ngày càng thiếu hụt nhân sự có kinh nghiệm, việc sử dụng lao động cao tuổi sẽ ngày càng phổ biến. Tuy nhiên, HR và C&B cần hiểu đúng bản chất pháp lý để tránh những rủi ro truy thu BHXH và tranh chấp lao động về sau.