“Người lao động ký hợp đồng chính thức từ ngày 19/06/2026 thì báo tăng BHXH từ tháng 6 hay tháng 7 vậy cả nhà. Công ty mình nghỉ T7, CN ạ.”
Đây là một tình huống vô cùng phổ biến mà các nhân viên nhân sự (HR) và kế toán thường xuyên gặp phải khi tiến hành báo tăng Bảo hiểm xã hội (BHXH) cho nhân viên mới. Để giải quyết bài toán này, một mốc mà trong giới HR đồn nhau đó là: mốc "14 ngày làm việc".
Vậy thì “14 ngày làm việc” là như thế nào? Phiên bản mà tôi thấy các bạn HR áp dụng nhiều nhất đó là: "Người lao động phải làm đủ 14 ngày trong tháng mới được đóng BHXH"
Bài viết dưới đây sẽ phân tích chi tiết tình huống trên, đồng thời làm rõ mọi quy định xoay quanh số ngày công làm việc làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc để doanh nghiệp và người lao động cùng nắm rõ.
1. Giải quyết tình huống: Báo tăng tháng 6 hay tháng 7?
Chúng ta cần hiểu rõ nguyên tắc chung của pháp luật theo Khoản 5, Điều 33 Luật BHXH: Người lao động nếu không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì cả người lao động và người sử dụng lao động đều không phải đóng BHXH của tháng đó.
Điều 33. Mức đóng, phương thức và thời hạn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của người lao động
5. Đối tượng quy định tại các điểm a, b, c, d và i khoản 1 và khoản 2 Điều 2 của Luật này mà không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì người lao động không phải đóng bảo hiểm xã hội tháng đó, trừ trường hợp người sử dụng lao động và người lao động có thỏa thuận về việc có đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động tháng đó với căn cứ đóng bằng căn cứ đóng bảo hiểm xã hội tháng gần nhất.
Đối tượng quy định tại các điểm đ, e và k khoản 1 Điều 2 của Luật này mà không làm việc từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì thực hiện theo quy định của Chính phủ.
Áp dụng vào tình huống trên: Người lao động bắt đầu làm việc từ ngày 19/06/2026. Công ty nghỉ thứ Bảy và Chủ nhật:
Kết luận: Vì số ngày làm việc không hưởng lương trong tháng 6/2026 đạt chuẩn xác ở mốc từ đủ 14 ngày làm việc trở lên, nên công ty và người lao động sẽ không phải đóng BHXH tháng 6/2026 mà bắt đầu báo tăng từ tháng 7/2026.
2. Có trường hợp nghỉ từ 14 ngày công trở lên nhưng VẪN được tính hoặc bắt buộc đóng BHXH không?
Dù thực tế người lao động nghỉ việc không lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng, pháp luật quy định các trường hợp sau đây vẫn được tính hoặc bắt buộc phải đóng BHXH nhằm bảo vệ quyền lợi an sinh:
Điều 53. Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi sinh con
8. Đối với trường hợp lao động nữ sinh con, người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi, lao động nữ mang thai hộ khi sinh con, lao động nữ nhờ mang thai hộ thì thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, người lao động và người sử dụng lao động không phải đóng bảo hiểm xã hội.
Đối với các trường hợp khác mà có thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì thời gian này được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, người lao động và người sử dụng lao động không phải đóng bảo hiểm xã hội.
Điều 10. Quyền của người tham gia và người thụ hưởng chế độ bảo hiểm xã hội
2. Người thụ hưởng chế độ bảo hiểm xã hội có các quyền sau đây:
b) Hưởng bảo hiểm y tế trong trường hợp đang hưởng lương hưu; nghỉ việc hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng; trong thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng; trong thời gian nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng hoặc nghỉ việc hưởng trợ cấp ốm đau đối với người lao động bị mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành; đang hưởng chế độ quy định tại Điều 23 của Luật này;
Điều 33. Mức đóng, phương thức và thời hạn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của người lao động
6. Trường hợp trong tháng đầu làm việc hoặc trong tháng đầu trở lại làm việc mà người lao động nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên thì vẫn phải đóng bảo hiểm xã hội của tháng đó.
3. Bị tạm đình chỉ, tạm giam ảnh hưởng thế nào đến số công đóng BHXH?
Điều 11. Tạm dừng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tạikhoản 2 và 3 Điều 37 của Luật Bảo hiểm xã hội
2. Người lao động không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này mà bị tạm đình chỉ công việc từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì việc tạm dừng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được thực hiện như sau:
a) Trong thời gian bị tạm đình chỉ công việc từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì người lao động và người sử dụng lao động tạm dừng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc;
b) Trường hợp sau thời gian tạm đình chỉ công việc từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng mà người lao động được người sử dụng lao động trả đủ tiền lương cho thời gian bị tạm đình chỉ công việc thì thực hiện việc đóng bù bảo hiểm xã hội bắt buộc cho thời gian bị tạm đình chỉ công việc. Thời hạn đóng bù chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng tiếp theo tháng kết thúc việc tạm dừng đóng. Số tiền đóng bù của những tháng tạm dừng đóng bằng số tiền phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại Điều 33 và Điều 34 của Luật Bảo hiểm xã hội.
Trường hợp sau thời hạn đóng bù chậm nhất, người sử dụng lao động và người lao động mới đóng bù cho những tháng tạm dừng đóng thì thực hiện theo quy định tại Điều 40 và Điều 41 của Luật Bảo hiểm xã hội;
c) Trường hợp sau thời gian tạm đình chỉ công việc từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng mà người lao động không được người sử dụng lao động trả đủ tiền lương cho thời gian bị tạm đình chỉ công việc thì không thực hiện việc đóng bù bảo hiểm xã hội bắt buộc cho thời gian bị tạm đình chỉ công việc.
Điều 27. Xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội của người lao động để làm căn cứ giải quyết, điều chỉnh chế độ hưu trí, tử tuất
1. Thời gian đóng bảo hiểm xã hội của người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 26 Nghị định này được xác nhận để làm căn cứ giải quyết, điều chỉnh chế độ hưu trí, tử tuất là thời gian đóng bảo hiểm xã hội bao gồm cả thời gian chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc trước ngày 01 tháng 7 năm 2024 đối với trường hợp người sử dụng lao động thuộc trường hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị định này.
2. Thời gian chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc trước ngày 01 tháng 7 năm 2024 của người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, không bao gồm thời gian người lao động nghỉ việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng, trừ thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
Qua việc giải quyết bài toán thực tế, có thể thấy con số "14 ngày làm việc" chính là chiếc chìa khóa định chuẩn để giải quyết các vướng mắc về đóng BHXH hằng tháng.
Bộ phận nhân sự, kế toán tiền lương của các doanh nghiệp cần thiết lập quy trình theo dõi sát sao bảng chấm công hằng tháng. Việc đếm chính xác số ngày làm việc thực tế, phân tách rõ ràng ngày nghỉ cuối tuần, ngày nghỉ có lương và nghỉ không lương là cơ sở tiên quyết để thực hiện báo tăng, báo giảm BHXH một cách hợp pháp, tối ưu chi phí cho doanh nghiệp và đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người lao động.
Mới đây, trên diễn đàn nhân sự, có một câu hỏi tình huống rất thực… Read More
Hỏi: "Mình khởi nghiệp từ một hộ kinh doanh nhỏ ngành nghề: Custom decor, mấy… Read More
Tôi lại tiếp tục bị bắt xác minh. Lúc đó tầm 10h sáng ngày 24/6/2026,… Read More
Về việc giải quyết chế độ thai sản cũng là một vấn đề được khá… Read More
Gần đây, tôi nhận được một tình huống rất điển hình và vô cùng thực… Read More
Amazon yêu cầu hơn 80% lập trình viên phải sử dụng AI hàng tuần, nhằm… Read More