Kiểm soát hoạt động nhân sự nội bộ cần được nghiên cứu và đào tạo

( Đăng lại bài viết được đăng trong kỷ yếu Hội thảo khoa học Quản trị Nhân lực: Những vấn đề đào tạo và thực tiễn của Khoa Quản trị Nhân lực trường Đại học Thương Mại và Khoa Quản lý Nhân lực trường Đại học Lao động - Xã hội )

Trong thời gian gần đây, chúng ta có thể thấy sự quan tâm lớn của xã hội vào các hoạt động quản trị nguồn nhân lực hay quản trị nhân sự. Hàng loạt các trường đại học, cao đẳng mở thêm ngành hoặc mở rộng đào tạo lĩnh vực này. Cùng với đó là các hoạt động nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ, quan hệ của cộng đồng nghề Quản trị Nhân sự (Nghề Nhân sự) cũng được tổ chức, diễn ra một cách thường xuyên và liên tục, trải dài từ Nam tới Bắc. Các chương trình ti vi, báo đài cũng dành một lượng không nhỏ bài viết nói về vấn đề này. Sự phát triển của nghề Nhân sự đòi hỏi các chương trình đào tạo và đơn vị đào tạo phải liên tục được đổi mới cho phù hợp với thực tế đang diễn ra trên các doanh nghiệp Việt.

Các doanh nghiệp (DN) nhà nước, đang tiến hành thay đổi trong hệ thống nhân bộ để tạo ra sự linh hoạt cho chính bản thân họ. Cụ thể, gần đây, nhà nước đã ban hành thông tư số 17/2015/TT-BLĐTBXH để hướng dẫn các DN nhà nước chuyển đổi lương theo nghị định Nghị định 205/2004/NĐ-CP sang nghị định 49/2013/NĐ-CP. Còn các doanh nghiệp tư nhân, vốn mang trong mình sự linh hoạt cũng đang tiến hành nâng cấp hệ thống vận hành hoạt động nhân sự của mình thống qua các dự án như Khung năng lực, Quản trị tri thức, Hệ thống lương 3P.

Sự thay đổi cùng với vận hành hệ thống có thể dẫn tới những sai lầm. Và những người trong hệ thống đó không nhận ra được họ đang sai lầm. Một doanh nghiệp có thể mắc nhiều vấn đề và nhiều loại sai lầm. Sai lầm trong quá trình vận hành hoạt động nhân sự được coi là sai lầm mang tính quan trọng. Nhất là khi vai trò và quyền lực của phòng Nhân sự càng lớn thì nguy cơ càng cao. Người phụ trách quản trị nhân sự có thể dùng các thủ thuật để tạo ra những lỗ hổng trong vận hành để tư lợi cá nhân. Ví như các hoạt động liên quan đến tuyển dụng. Chuyên viên tuyển dụng có thể làm sai hoặc thông đồng với các trưởng bộ phận để làm không đúng, dẫn tới tuyển người không phù hợp cho công ty, gây thiệt hại cho nội tại doanh nghiệp. Ngoài ra là các hoạt động đấu đá nội bộ xung quanh các hoạt động nhân sự.

Thực tế này dẫn tới nhu cầu cần phải có một công việc mới. Đó là kiểm soát các hoạt động nhân sự (HĐNS) nội bộ. Hệ thống kiểm soát HĐNS nội bộ thực chất là các hoạt động, biện pháp, kế hoạch, quan điểm, nội quy chính sách và nỗ lực của mọi thành viên trong tổ chức để đảm bảo cho tổ chức đó hoạt động hiệu quả và đạt được mục tiêu đặt ra một cách hợp lý. Nói cách khác, đây là tập hợp tất cả những việc mà một công ty cần làm để có được những điều muốn có và tránh những điều muốn tránh. Hệ thống này không đo đếm kết quả dựa trên các con số tăng trưởng, mà chỉ giám sát nhân viên, chính sách, hệ thống, phòng ban của công ty đang vận hành ra sao và, nếu vẫn giữ nguyên cách làm đó, thì có khả năng hoàn thành kế hoạch không. Ngoài ra, thiết lập được một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu sẽ hạn chế đến mức thấp nhất việc thất thoát tài sản công ty.

Chúng ta thấy rõ nhiệm vụ của Kiểm soát họa động nhân sự nội bộ cũng chung nhiệm vụ với các hoạt động kiểm soát nội bộ khác:
- Ngăn ngừa sai phạm trong quy trình xử lý nghiệp vụ .
- Phát hiện và sửa chữa kịp thời những sai phạm trong xử lý nghiệp vụ giúp cho doanh nghiệp tránh khỏi thuất thoát tài sản .
- Giúp cho doanh nghiệp thực hiện được chính sách đường lối kinh doanh .
- Đảm bảo an toàn tài sản

Và Trách nhiệm công việc chính của một kiểm soát hoạt động nhân sự nội bộ bao gồm nhưng không giới hạn:
- Thực hiện việc giám sát, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động nhân sự
- Kiểm soát đánh giá hoạt động tuyển dụng từ khâu yêu cầu, lựa chon nhà cung cấp dịch vụ headhunter (tuyển dụng), giá cả, hợp đồng.
- Kiểm soát và đánh giá hoạt động chi trả lương, chính sách và mức lương so với thị trường.
- Kiểm soát hồ sơ lao động và các thủ tục liên quan đến pháp luật;
- Kiểm soát và đánh giá tình hình sử dụng tài sản cố định/công cụ dụng cụ;
- Kiểm soát các hoạt động tài chính liên quan đến hoạt động nhân sự.
- Kiểm soát đánh giá sự bất ổn của văn hóa và môi trường làm việc
- Kiểm soát các hoạt động đào tạo cũng nhưng các hoạt động liên quan đến tạo động lực cho nhân viên

Tuy nhiên đây lại là một hoạt động mới ở nước ta và chưa được nhắc nhiều. Các hoạt động kiểm soát HĐNS nội bộ thường được hòa với các hoạt động kiểm soát nội bộ khác. Vì thế việc cân nhắc để có một chương trình, bộ môn mới đào tạo vấn đề này là phù hợp với nhu cầu. Chúng ta sẽ đào tạo cái gì, chương trình như thế nào để cho ra một kiểm soát hoạt động nhân sự nội bộ tốt ? Đây là điều cần các nhà nghiên cứu, giảng viên các trường đại học đưa ra lời giải.

Với cá nhân, tôi đề xuất chúng ta nên xây dựng nó thành một bộ môn. Và nghiên cứu một số vấn đề sau:
- Kiểm soát quy trình hoạt động nhân sự
- Kiểm soát tài chính trong lĩnh vực nhân sự
- Kiểm soát các yếu tố liên quan đến luật trong nhân sự
- Kiểm soát môi trường và việc thực thi các chính sách nhân sự trong doanh nghiệp
- Kiểm soát các hoạt động đánh giá con người và hiệu quả công việc

Cùng với việc đào tạo học thuật, chúng ta cần đào tạo các yếu tố bên trong để tạo ra được một người có đủ phẩm chất kiểm soát hoạt động nhân sự nội bộ. Một số phẩm chất cần có bao gồm: Kiên nhẫn, khéo léo, kiên quyết và trung thực.

Nguyễn Hùng Cường

Nhuận bút bằng giá trị 2 quyển sách của tôi : sachnhansu.net. Làm khoa học đâu có tệ bạc như mọi người hay nghĩ nhỉ ?

Hình ảnh hội thảo khoa học về quản trị Nhân lực của trường Đại học Thương Mại

Từ ngày nhận ra rằng mình cần phải tăng cường đi học mót về nhân sự là lúc tôi nhận được rất nhiều kinh nghiệm cũng như kiến thức về HR. Và đây là một trong những buổi tôi học mót được khá nhiều. Tôi định viết một bài review về buổi hội thảo này từ trưa nhưng bận quá, mãi tới nửa đêm mới có chút thời gian vào blog.

Buổi hội thảo diễn ra thường niên và năm nay đặc biệt là diễn ra trong dịp:
- Kỷ niệm 55 năm thành lập trường Đại học Thương Mại
- 5 năm thành lập Khoa quản trị Nhân lực Đại học Thương Mại
- 54 năm thành lập khoa QUản lý nguồn Nhân lực - Đại học Lao động Xã hội (gần bằng số năm thành lập của trường TM)
Nó (buổi hội thảo) bắt đầu từ lúc 8h và kết thúc lúc 11h, có 5 tham luận được báo cáo, giữa giờ có teabreak nhẹ cho mọi người giải lao và network. Tôi luôn tự nhận mình là người khá may mắn và trong buổi này cũng vậy đó là tôi có được cơ hội làm quen với các thầy cô từ nhiều trường đào tạo Nhân lực (KTQD, LDXH, TM, NV ...).

Về cơ bản, xuyên suốt trong buổi hội thảo mọi người trao đổi nhiều về thuật ngữ: "năng lực", "khung năng lực"

PGS.TS Phạm Công Đoàn - trưởng khoa Quản trị Nhân lực - ĐH TM phát biểu

PGS.TS Vũ Thị Mai - ĐH KTQD. Cô có đi cùng với chị Ngân. Cô Mai đang nói về Trường KTQD và khoa của cô. Hệ cử nhân ngành quản trị Nhân lực của trường KTQD có đặc điểm là không đào tạo chuyên ngành. Tức là không đào tạo sâu vào 1 mảng nhỏ mà sẽ đào tạo tổng hợp. Và để tránh việc không biết sâu một vấn đề nào đó, khoa có chia làm nhiều học phần và thúc đẩy sinh viên nghiên cứu sâu ngay trong học phần đó.

TS.Bùi Thị Huế - ĐH LĐXH

PGS.TS Nguyễn Bá Ngọc, Viện Khoa học Lao động và Xã hội

Mrs Lê Thị Thanh Vân - HRM CMC Corporation. Mrs Vân trao đổi về năng lực chuyên viên nhân sự theo chuẩn quốc tế. Đó là theo chuẩn SHRM. Hôm nào tôi sẽ có bài viết thêm về vấn đề này mới được. : )


Mr Nguyễn Chí Cường, Tổng giám đốc FSC

ThS Phan Sơn - Giám đốc nhân sự công ty cổ phần công nghiệp Vĩnh Tường đang phát biểu trao đổi

Còn đây là bài viết của tôi và nhuận bút : ) . Theo quan điểm cá nhân thì tương lai mọi người sẽ nói về chủ đề tôi viết nhiều. Kiểm soát hoạt động nhân sự nội bộ là tất yếu với xu hướng phát triển của lĩnh vực nhân sự như hiện nay.

Sách kỷ yếu và giấy mời tham dự lễ kỷ niệm của khoa

Thôi tạm vài hình ảnh thế này đã. Giờ cũng muộn rồi. Chúc mọi người ngủ ngon. Hẹn gặp mọi người trong bài sau. Tôi sẽ viết kỹ hơn về các chủ đề được tham luận.

Ngành – lĩnh vực quản trị nhân sự – nhân lực đã đào tạo đủ người chưa ?

Chiều chủ nhật tôi thấy thông tin này khá hay:

Nghiên cứu những công ty được đánh giá là biết “Thực hành nhân sự tốt nhất” (HR Best Practice) ở khu vực Đông Nam Á (ASEAN), cứ khoảng 100 người lao động trong công ty, thì cần có một (1) nhân viên nhân sự

Nếu đem chỉ số này áp dụng tại TP.HCM, nơi có khoảng 138.000 doanh nghiệp đang hoạt động, với ước tính khoảng 1 triệu người lao động, phải cần đến 10.000 nhân viên nhân sự ngay thời điểm hiện tại.

Đây là các thông tin tôi đọc được trong một sự kiện của các bạn sinh viên. Tự nhiên tôi thấy quan tâm nên làm cái nghiên cứu nho nhỏ. Nghiên cứu để trả lời câu hỏi: Ngành - lĩnh vực quản trị nhân sự - nhân lực đã đào tạo đủ người chưa ?

Để trả lời tôi cần hoàn thành 6 câu hỏi sau:
1. Ở Việt nam (1) nhân viên nhân sự support (hỗ trợ) bao nhiêu người lao động ?
2. Cần bao nhiêu người làm nhân sự ?
3. Thực tế mỗi năm đào tạo ra bao nhiêu người làm nhân sự ?
4. Hiên tại có bao nhiêu người làm nhân sự ?
5. Sự phát triển của nghề nhân sự ?
6. Kết luận cuối cùng ?

Bắt đầu:

1. Ở Việt nam (1) nhân viên nhân sự support (hỗ trợ) bao nhiêu người lao động ?
- Đặc thù các công ty Việt Nam: nhân sự thường kết hợp với hành chính. Vì thế rạch ròi (1) nhân viên nhân sự support (hỗ trợ) bao nhiêu người lao động thì chỉ có thể áp dụng được cho các công ty có quy mô khoảng 50 người trở lên. Cho nên sẽ có 2 cái nghiên cứu:
+ Nghiên cứu các công ty chung
+ Nghiên cứu cho các công ty lớn hơn 50 người hoặc công ty đã tách hành chính riêng và nhân sự riêng.

Tôi đã làm nghiên cứu về vấn đề này: Khảo sát vui tỷ lệ số nv nhân sự / số nhân viên công ty ?

Kết quả hiện tại là :
- Thực tế: 1 Hr support cho 159 nhân viên.
- Suy nghĩ: 1 Hr support cho 95 nhân viên

Số người tham gia khảo sát: 101 người

2. Cần bao nhiêu người làm nhân sự ?

Con số này khó lấy hơn. Lấy tạm báo cáo của bộ lao động vào quý 2 năm 2014 - click, ta thấy:

Số liệu hơi cũ một chút, cách đây một năm nhưng chắc làm minh họa vẫn được. Nhìn vào số liệu này ta thấy: Thành thị có 15,5 triệu người có việc làm, cả nước có 52,5 triêu người có việc làm

Thôi cứ tạm tin là 50% số người này có việc làm. Tức là tầm 7,5 triệu người ở thành thị. Theo cách tính trên cần: 7,5 triệu / 159 = 47 170 người

3. Thực tế mỗi năm đào tạo ra bao nhiêu người làm nhân sự ?

Để trả lời cho câu hỏi thứ 3 này tôi đi tìm thông tin ngành học quản trị nhân lực của các trường. Và đây là những dữ liệu tôi thu thập được:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG ĐOÀN
Số 169 Tây Sơn, Đống Đa, Hà Nội
Quản trị nhân lực :200

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Số 207, đường Giải Phóng, quận Hai Bà Trưng, TP Hà Nội ;
Quản trị nhân lực : 120

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI
Trường Đại học Lao động – Xã hội, Trụ sở chính tại Hà nội: Số 43, đường Trần Duy Hưng, Phường Trung Hoà, Quận Cầu Giấy, TP Hà Nội.
Quản trị nhân lực :1.000

Trường Đại học Lao động – Xã hội, Địa điểm đào tạo tại Sơn Tây (Cơ sở Sơn Tây)
Phố Hữu Nghị, Phường Xuân Khanh, Thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội
Quản trị nhân lực : 100

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI (CƠ SỞ II TP HCM)
Số 1018 Tô Ký, Phường Tân Chánh Hiệp, Quận 12, TP Hồ Chí Minh.
Quản trị nhân lực : 500

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
Số 36 đường Xuân La, quận Tây Hồ, Hà Nội. ĐT: (04) 37533.659 - 37532.864-113.
Quản trị nhân lực: 220

Các ngành đào tạo cao đẳng:
Quản trị nhân lực: 60

Cơ sở Đào tạo tại Quảng Nam - Đà Nẵng
Khu Đô thị mới Điện Nam - Điện Ngọc, Huyện Điện Bàn - Quảng Nam.
Quản trị nhân lực : 100

Các ngành đào tạo cao đẳng:
Quản trị nhân lực: 50

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
Đường Hồ Tùng Mậu, P. Mai Dịch, Q. Cầu Giấy, TP. Hà Nội,
Quản trị nhân lực: 280

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Số 100 Phùng Hưng, Phường Thuận Thành, Thành phố Huế.
Quản trị nhân lực*: 60

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Quản trị nhân lực: 60

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA SEN(*)
Số 08 Nguyễn Văn Tráng, Q.1, Tp.HCM,
Quản trị nhân lực: 100

Thông tin lấy từ nguồn: Những điều cần biết về tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy năm 2014 . Như vậy chính xác trong Hồ Chí Minh chỉ có trương Hoa Sen đào tạo chuyên ngành Quản trị Nhân lực. Còn đâu đều tập trung ngoài Bắc và 1 số ít miền Trung. Giờ đến lúc tính tổng số sinh viên 1 năm được đào tạo, tương ứng với nó là ra trường: 2850 sinh viên. Những trường chính thức là vậy ngoài ra còn 1 số trường không công khai trên cẩm nang tuyển sinh nhưng cũng có chuyên ngành đào tạo nhân lực ví dụ như trường Xã hội và Nhân văn chả hạn. Do đó cứ lấy tạm con số 3000 hàng năm để nói chuyện.

Một năm có 3000 sinh viên ra trường. Như vậy sau 10 năm là có 30.000 người, đủ đáp ứng cho xã hội.

4.Hiện tại có bao nhiêu người làm nhân sự ?

Theo thống kê từ data của tôi có khoảng 3.000 người đang làm nhân sự. Con số này không chính xác vì tôi thấy còn nhiều hơn thế. Theo bài báo này: Thực ảo số doanh nghiệp Việt Nam thì có 468.600 doanh nghiệp đang thực sự hoạt động. Thôi cứ lấy tạm 1/5 số này có ít nhất 1 người làm nhân sự. Vậy là có : 93 720 người làm nhân sự.

Con số lý thuyết: 93 720 đã > con số dự kiến : 47 170 người

Thực tế như bài : Có nên thi quản trị nhân lực không và học ngành này ra thì để làm gì ? , tôi đã nói :

nhu cầu về cần tuyển người làm việc ở vị trí nhân sự (nhu cầu nhân lực vị trí nhân sự) không có ở top 10 nhưng cung về người cần làm ở vị trí nhân sự (nhu cầu việc làm vị trí nhân sự) thì lại ở top 10 >> Cung đang nhiều hơn cầu.

Tỷ lệ cạnh tranh trong lĩnh vực việc làm Nhân sự cũng cao: cứ 1 người phải cạnh tranh với 2.09 người nữa.

Dựa vào các luận cứ trên có thể ra kết luận rằng các trường đại học giờ không đào tạo để đáp ứng nhu cầu thị trường. Mà có thể là đào tạo để đón đầu thị trường. Câu hỏi đặt ra tiếp là sự phát triển của thị trường như thế nào và có đủ cho 3000 sinh viên ra trường hàng năm không ?

5. Sự phát triển của nghề nhân sự ?

Theo tỷ lệ hỗ trợ ở mục 1 thì thị trường làm việc tăng sẽ làm tăng quy mô nhu cầu người làm nhân sự + với sự đào thảo của ngành ( nghỉ hưu, không làm nhân sự). Dựa vào bảng thống kê ở trên, dường như số người tham gia vào thị trường việc làm đang giảm đi. Như vậy số người làm nhân sự sẽ phải giảm tương ứng. Cho nên trông chờ vào quy mô thị trường việc làm để đào tạo, theo tôi là không nên.

Tốt nhất là chúng ta nên trông chờ vào việc những người có việc làm ở trên có việc làm thực sự và gia nhập một doanh nghiệp hay tổ chức nào đó. Tôi mới lấy có 7,5 triệu người thôi trong khi thống kê là 52,5 triệu. Nếu 52,5 triệu người này làm cho các công ty và có công việc ổn định hẳn hoi, chúng ta cần: 52,5 triệu / 169 = 310.000 người làm nhân sự.

Do đó chúng ta dự đoán thiếu khoảng 200.000 người làm nhân sự nữa. Các trường đại học sẽ phải đào tạo 30 năm nữa may ra mới đáp ứng đủ.

6. Kết luận cuối cùng ?

Viết một bài dài, mất cả đống thời gian để nghiên cứu số liệu, giờ tôi muốn hỏi những ai đủ kiên nhẫn đọc đến đoạn kết : liệu mọi người nghĩ rằng thị trường đang thừa hay thiếu người làm nhân sự ? Tôi thì tin là đang thừa.

Lời khuyên của tôi là: các trường nên tổ chức các khóa thạc sỹ để đào tạo những người làm nhân sự. Tốt nhất là thạc sỹ thực hành. Đào tạo lại chứ đừng đào tạo mới.

Học chuyên ngành nhân lực khoa khoa học quản lý trường Nhân văn sau này ra làm gì ?

Tối nay vào được thầy Dinh Viet Hai - phòng đào tạo trường đại học Xã hội và Nhân văn tag hỏi thăm trong bài viết : Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn ĐHQG có đào tạo về chuyên ngành quản trị nhân lực ?

Vào link thầy đưa cho thì thấy được đoạn giới thiệu này: Cơ hội nghề nghiệp cho Chuyên ngành quản trị nhân lực

Nhà Quản trị nhân lực là người trực tiếp thực hiện những nhiệm vụ quản lí, điều hành nhân lực trong các cơ quan, tổ chức. Họ chịu trách nhiệm về mọi vấn đề có liên quan đến công tác nhân lực của tổ chức.

Những công việc và nhiệm vụ phải thực hiện:
- Xây dựng chiến lược, kế hoạch nhân lực cho tổ chức trong từng thời kì, từng giai đoạn nhất định; Tìm kiếm, tuyển dụng, phân công, bố trí người lao động vào những công việc phù hợp với khả năng và yêu cầu công việc; Tổ chức hoạt động đào tạo và phát triển trình độ chuyên môn, kĩ năng nghề nghiệp cho người lao động.
- Xây dựng thang, bảng lương; Quản lí tiền lương; thực hiện chế độ bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, chính sách phúc lợi cho người lao động; Xây dựng định mức làm việc cho từng vị trí công tác; Xây dựng chính sách động viên, khích lệ người lao động…

Các yêu cầu về năng lực, tính cách:
Có hiểu biết chung về con người; Kiên nhẫn, biết lắng nghe, biết quan sát; Quyết đoán, chính xác; Giao tiếp linh hoạt…

Các cơ quan, đơn vị tuyển dụng:
Các cơ quan Đảng, Nhà nước các cấp (Tổ chức, Nội vụ, Lao động, Thương binh và Xã hội), UBND các cấp; Các Doanh nghiệp (Phòng Nhân sự; Tổ chức – Cán bộ, Hành chính); Các tổ chức chính trị – xã hội (Mặt trận Tổ quốc, Công đoàn, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh Niên, Hội Nông dân).

Triển vọng nghề:
Cơ hội tìm kiếm việc làm dễ dàng; Môi trường làm việc năng động, chuyên nghiệp; Nhiều cơ hội thăng tiến, thu nhập cao.

Tôi có chút lời bình:
- Phần nói về các yêu cầu năng lực, tính cách: có vẻ không xây dựng theo ASK.
- Đây dường như không phải tuyên bố đầu ra vì nó không giống lắm so với trường đại học Thương Mại: Chuẩn đầu ra ngành Quản trị Nhân lực trường đại học Thương Mại . So sánh giữa 2 trường thì trường Thương Mại làm chuyên nghiệp và có vẻ giống HR hơn.

Đọc đến đây mà các bạn sinh viên vẫn chưa biết mình sau ra làm gì thì có thể tham khảo thêm bài viết này của tôi: Có nên thi quản trị nhân lực không và học ngành này ra thì để làm gì ?. Bài viết này tôi viết năm 2014 và có nhận định:

Nhìn vào bảng này sẽ rõ, nhu cầu về cần tuyển người làm việc ở vị trí nhân sự (nhu cầu nhân lực vị trí nhân sự) không có ở top 10 nhưng cung về người cần làm ở vị trí nhân sự (nhu cầu việc làm vị trí nhân sự) thì lại ở top 10 >> Cung đang nhiều hơn cầu.

Tỷ lệ cạnh tranh trong lĩnh vực việc làm Nhân sự cũng cao: cứ 1 người phải cạnh tranh với 2.09 người nữa.

Như vậy nếu bạn vẫn đắm đuối với ngành này thì sẽ phải nỗ lực nhiều. Thực tế sẽ không giống như câu nhận định của trường: "Cơ hội tìm kiếm việc làm dễ dàng". Nó chỉ dễ dàng với những ai sẵn sàng đón nhận cơ hội mà thôi.

Chuẩn đầu ra ngành Quản trị Nhân lực trường đại học Thương Mại

Tháng 10 năm ngoái (2013), tôi có được chị Lan trưởng bộ môn Quản trị Nguồn Nhân lực gửi mail nhờ góp ý cho Chuẩn đầu ra ngành Quản trị Nhân lực trường đại học Thương Mại. Trong mail tôi còn thấy chị cc cho một số anh chị khác trong giới. Không biết các anh chị ý nghĩ ra sao nhưng với tôi thì đây là một niềm vinh hạnh. Ít ra thì tôi cũng đã đóng góp 1 phần nào đó cho trường (trường cũ của tôi).



Đây là góp ý của tôi:

Kính gửi: trường Đại học Thương Mại;
Đồng kính gửi: Khoa Quản trị nguồn nhân lực;

Xin tự giới thiệu, tôi là Nguyễn Hùng Cường – giám đốc công ty Vinatest. Vinatest là tổ chức khảo sát , đánh giá độc lập trong lĩnh vực Nhân sự. Sau khi nhận được thư mời phản biện của quý trường, tôi xin được góp ý như sau:
1. Yêu cầu về kiến thức
- Cần thêm Marketing căn bản: Nguyên nhân do nhân sự phải làm sự kiện nhân lực (event) trong (truyền thông nội bộ) và ngoài (tuyển dụng, hội thảo, ngày hội việc làm) doanh nghiệp, giao tiếp quảng bá thương hiệu nhân sự cho công ty.

2. Yêu cầu về kỹ năng
- Có kỹ năng sử dụng thành thạo các công cụ Microsoft, internet và các phần mềm quản trị nhân lực (đủ để soạn thảo hợp đồng, các loại văn bản nhà nước, thiết kế, design các văn bản hợp lý; biết các công thức tính, thống kê trong excel)
- Có kỹ năng giao tiếp thông thường, đọc, dịch tài liệu chuyên ngành bằng tiếng Anh và có kiến thức căn bản của một ngoại ngữ bổ trợ (chuẩn TOEIC:5.0)
- Có kỹ năng tổ chức sự kiện, đàm phán và các kỹ năng làm việc chuyên nghiệp khác;

3. Yêu cầu về thái độ
- Có khả năng cập nhật kiến thức, ham học hỏi, sáng tạo và có tinh thần cầu tiến; thích giao tiếp với con người.

4. Vị trí làm việc của người học sau khi tốt nghiệp
Thêm 1 số chức danh, vị trí sinh viên có thể làm như:
- Hành chính lễ tân
- Chuyên viên Quản lý đào tạo ( vị trí đào tạo ): giảng viên nội bộ hoặc nhân viên quản lý đào tạo.
- Chuyên viên tuyển dụng
- Chuyên viên chính sách – đãi ngộ
- Chuyên viên lương – chính sách (C&B)
- Chuyên viên bảo hiểm
- Chuyên viên truyền thông nội bộ
- Chuyên viên xử lý quan hệ nội bộ
- Chuyên viên dự án nhân sự (là người chuyên chạy các dự án về nhân sự. Các dự án như cán bộ nguồn …. )
- Ngoài ra nếu không làm chuyên về nhân sự thì có thể làm các công việc có liên quan đến nhân sự như :
+ Headhunter – săn đầu người (thiên hướng sale)
+ Tư vấn nhân sự
+ Quản lý đào tạo cho các công ty đào tạo
+ Sale tư vấn về các dịch vụ Nhân sự
+ Chuyên viên quản lý nội dung các site tuyển dụng
Kết luận: Chuẩn đầu ra của trường Đại học Thương Mai đáp ứng gần như đầy đủ các yêu cầu thực tế. Nhưng cần đưa ra chi tiết hơn và cần thêm 1 số sửa đổi cho sát với yêu cầu doanh nghiệp hơn.

Xin trân trọng cảm ơn!


Trong trao đổi, tôi có xin phép chị là được đưa chuẩn đầu ra của trường lên blog để mọi người cùng nắm. Chị nói được nhưng phải chờ trường công bố. Chờ mãi rồi mưa dầm, nắng gắt, việc nhiều làm tôi quên mất. Cho đến hôm nay khi có bạn hỏi, tôi mới nhớ ra. Lên site của trường Thương Mại đọc thì thấy là trường đã công bố chuẩn đầu ra cho các ngành rồi. Và đây là kết quả:

CHUẨN ĐẦU RA NGÀNH QUẢN TRỊ NHÂN LỰC CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ NHÂN LỰC THƯƠNG MẠI .

Để xem rõ hơn, anh chị và các bạn vui lòng click vào link của trường: http://www.vcu.edu.vn/Adminaspx/uploads/files/Chuan-dau-ra-dai-hoc-Thuong-Mai.pdf

1. Tên chuyên ngành đào tạo
Tiếng Việt: Quản trị nhân lực
Tiếng Anh: Human Resource Management

2. Trình độ đào tạo: Đại học

3. Yêu cầu về kiến thức
Sinh viên tốt nghiệp ngành Quản trị nhân lực, chuyên ngành Quản trị nhân lực thương mại đạt chuẩn kiến thức:
- Nắm vững các kiến thức giáo dục đại cương như: các nguyên lý quy luật tự nhiên, xã hội, lý luận chính trị, khoa học tự nhiên, xã hội nhân văn ở trình độ đại học theo quyết định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Có đủ kiến thức nền về quản trị - quản lý như: Kinh tế học lao động; Thị trường lao động; Quản trị học; Tâm lý học lao động; Hành vi tổ chức; Marketing căn bản làm cơ sở cho việc nghiên cứu các môn học ngành và chuyên ngành cũng như phát triển nghề nghiệp;
- Nắm vững kiến thức chuyên sâu về ngành Quản trị nhân lực và chuyên ngành Quản trị nhân lực thương mại bao gồm: Quản trị nhân lực căn bản; Quan hệ lao động; Luật Lao động; Hoạch định nguồn nhân lực; Tuyển dụng nhân lực; Đào tạo và phát triển nhân lực; Tổ chức và định mức lao động; Đánh giá thực hiện công việc; Trả công lao động; An toàn và vệ sinh lao động; Quản trị nhân lực thương mại; Kinh tế doanh nghiệp thương mại; Quản trị chiến lược; Quản trị rủi ro; Quản trị đa văn hóa;
- Có kiến thức bổ trợ và phát triển sang các ngành đào tạo khác của trường và các trường thuộc khối ngành Kinh doanh và Quản lý.

4. Yêu cầu về kỹ năng
Sinh viên tốt nghiệp ngành Quản trị nhân lực chuyên ngành Quản trị nhân lực thương mại đạt chuẩn kỹ năng chung cơ bản của ngành Quản trị nhân lực và kỹ năng chuyên sâu của chuyên ngành Quản trị nhân lực thương mại.

4. 1. Kỹ năng cứng
- Có kỹ năng hoạch định các chiến lược, chính sách và chương trình thu hút, sử dụng, duy trì và phát triển nguồn nhân lực;
- Có kỹ năng xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch nhân lực như: Tuyển dụng nhân lực; Đào tạo và phát triển nhân lực; Đánh giá nhân lực; Trả công lao động; An toàn vệ sinh lao động;
- Có kỹ năng lập và thực hiện các dự án nghiên cứu và triển khai (R&D) để phát hiện, giải quyết linh hoạt và kịp thời các vấn đề quản trị nhân lực (phân tích công việc, tổ chức và định mức lao động, rủi ro nhân lực…) của các tổ chức, doanh nghiệp;
- Có kỹ năng xác định các tiêu chuẩn đánh giá, thực hiện đánh giá và tiến hành các biện pháp điều chỉnh hoạt động quản trị nhân lực phù hợp với mục tiêu quản trị nhân lực góp phần thực hiện mục tiêu của tổ chức, doanh nghiệp;
- Có kỹ năng đối thoại, thương lượng và giải quyết xung đột trong quan hệ lao động.

4.2. Kỹ năng mềm
- Kỹ năng tin học: Sử dụng thành thạo phần mềm tin học văn phòng, có khả năng sử dụng phần mềm quản trị nhân lực;
- Kỹ năng ngoại ngữ: Sinh viên sau khi tốt nghiệp đạt chuẩn đầu ra Tiếng Anh tương đương Bậc 3 theo Thông tư 01/2014/TT-BGD&ĐT quy định về Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam (quy đổi tương đương sang một số chứng chỉ ngoại ngữ khác theo Thông tư số 05/2012/TT-BGDĐT ngày 15 tháng 2 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo);
- Có kỹ năng làm báo cáo, trình diễn, thuyết phục, truyền thông quản trị nhân lực và tổ chức sự kiện;
- Có kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm, làm việc độc lập, quản trị thời gian.

5. Yêu cầu về thái độ
Sinh viên tốt nghiệp ngành Quản trị nhân lực, chuyên ngành Quản trị nhân lực thương mại đạt chuẩn thái độ, hành vi sau:
- Có tư tưởng chính trị vững vàng, tán thành và tự giác phấn đấu theo mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, làm việc theo hiến pháp và pháp luật;
- Có đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp vị xã hội, nhân bản, nhân văn, ý thức
tổ chức kỷ luật lao động và tôn trọng nội qui của cơ quan, doanh nghiệp; Có ý thức cộng đồng, trách nhiệm công dân;
- Có tác phong công nghiệp, biết lắng nghe, có ý thức hợp tác làm việc theo nhóm và làm việc độc lập;
- Ham học hỏi, sáng tạo và có tinh thần cầu tiến.

6. Vị trí làm việc của người học sau khi tốt nghiệp
Sinh viên tốt nghiệp và đạt chuẩn đầu ra ngành Quản trị nhân lực, chuyên ngành Quản trị nhân lực thương mại của Trường Đại học Thương mại có thể làm việc tại các bộ phận thuộc các tổ chức doanh nghiệp sau:

6.1. Làm việc phù hợp và tốt tại các bộ phận sau của tổ chức, doanh nghiệp
- Bộ phận Tổ chức - Nhân sự/ Hành chính - Nhân sự/ Tổ chức lao động… của các doanh nghiệp;
- Bộ phận tổ chức, nhân sự, đào tạo tại các Bộ, Tổng cục, Cục, Ủy ban nhân dân, các tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể;
- Bộ phận phụ trách công tác lao động tại các cơ quan quản lý nhà nước về lao động các cấp
- Bộ phận Tổ chức - Nhân sự/ Tổ chức cán bộ của các cơ sở đào tạo;
- Bộ phận nghiên cứu về quản trị nhân lực tại các viện nghiên cứu
- Bộ phận cung cấp các dịch vụ tư vấn về quản trị nhân lực của doanh nghiệp
- Bộ môn phụ trách giảng dạy các học phần về quản trị nhân lực tại các cơ sở đào tạo.

6.2. Các loại hình và tổ chức doanh nghiệp có khả năng và cơ hội làm việc phù hợp
- Các doanh nghiệp thương mại, dịch vụ;
- Các doanh nghiệp sản xuất;
- Các cơ quan quản lý nhà nước về lao động các cấp(Phòng Lao động Thương binh và Xã hội; Phòng Nội vụ; Sở Lao động Thương binh và Xã hội; Sở Nội vụ; Bộ Lao động Thương binh và Xã hội; Bộ Nội vụ; bộ phận phụ trách công tác lao động ở các các tổ chức, cơ quan);
- Các Bộ, Tổng cục, Cục, Ủy ban nhân dân, các tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể;
- Các cơ sở đào tạo cao đẳng, đại học, học viên;
- Các viện nghiên cứu về quản trị nhân lực, viện nghiên cứu có bộ phận nghiên cứu về quản trị nhân lực;
- Các tổ chức cung cấp dịch vụ tư vấn về quản trị nhân lực.

7. Khả năng học tập, nâng cao trình độ sau tốt nghiệp
Trên nền tảng các kiến thức và kỹ năng đã được trang bị. Sinh viên sau khi tốt nghiệp có khả năng:
- Tiếp tục học lên các bậc cao hơn (thạc sỹ, tiến sỹ) ngành Quản trị nhân lực và học các ngành khác thuộc khối ngành kinh doanh và quản lý;
- Tự nghiên cứu, học tập, bổ sung các tri thức và kỹ năng còn thiếu nhằm đáp ứng với yêu cầu của vị trí công tác và quy hoạch phát triển nhân lực ở đơn vị công tác cụ thể;
- Tiếp tục học liên thông ngang sang các ngành khác.

8. Các chương trình, tài liệu đã tham khảo
8.1. Trong nước
- Chương trình đào tạo ngành Quản trị nhân lực, chuyên ngành Quản trị nhân lực thương mại của trường Đại học Thương mại ban hành kèm theo quyết định số 141/QĐ-ĐHTM ngày 21 tháng 03 năm 2012;
- Quyết định số 141/QĐ-ĐHTM ngày 21/3/2012 của Hiệu trưởng trường Đại học Thương mại về việc: Ban hành bộ chương trình GDĐH hệ chính quy các chuyên ngành trình độ đại học theo hệ thống tín chỉ;
- Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo học chế tín chỉ ban hành kèm theo Quyết định số 555/QĐ-ĐHTM-ĐT ngày 16 tháng 8 năm 2013 của Hiệu trưởng Trường Đại học Thương mại;
- Quy chế công tác sinh viên trong Trường Đại học Thương mại ban hành kèm theo Quyết định số 1836/QĐ-TM-CTCT&SV ngày 13 tháng 8 năm 2007 của Hiệu trưởng Trường Đại học Thương mại;
- Văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo số 2196/BGDĐT-GDĐH ngày 22/4/2010 về việc: Hướng dẫn xây dựng và công bố chuẩn đầu ra ngành đào tạo;
- Tuyên bố đầu ra cho chuyên ngành đào tạo Quản trị nguồn nhân lực thương mại trình độ đại học của Trường Đại học Thương mại ban hành theo Quyết định số 685/QĐ-TM-ĐT ngày 14 tháng 10 năm 2009 của Hiệu trưởng Trường Đại học Thương mại;
- Tuyên bố chuẩn đầu ra bậc đại học chuyên ngành Quản trị nguồn nhân lực của Trường Đại học Kinh tế quốc dân;
- Tuyên bố chuẩn đầu ra bậc đại học ngành Quản trị nhân lực của trường Đại học Lao động xã hội;
- Tuyên bố chuẩn đầu ra bậc đại học chuyên ngành Quản trị nhân lực của trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng.

8.2. Ngoài nước
- Course objective of Bachelor of Human resoure management in University of South Australia in Adelaide, Australia
- Course objective of Bachelor of Human resoure management in University of Toronto, Canada.
- Course objective of Bachelor of Labour Relation in University of Illinois, Urbana Champaign, US.
- Course objective of Diploma in Human Resource Management, University of MC Hill
- Course objective of Bachelor of Management (Human Resource Management Major), Northern Kentucky University
- Training programe of Bachelor of Human resoure management in University of South Australia in Adelaide, Australia
- Training programe of Bachelor of Human resoure management in University of Toronto, Canada.
- Training programe of Diploma in Human Resource Management, University of MC Hill
- Training programe of Bachelor of Management (Human Resource Management Major), Northern Kentucky University

Bài viết có thể phù hợp với các bạn đang tìm hiểu về ngành Quản trị Nhân lực trường ĐH Thương Mại và các bậc phụ huynh. Tất nhiên khi đọc được đến đây, hẳn các bạn (cả các bậc phụ huynh) sẽ tự nhiên trong đầu nảy ra một số câu hỏi như:
- Học ngành này ra có việc làm không ? có dễ xin việc không ?
- Học ngành này ra để làm gì ?
- Ngoài trường TM ra còn trường nào khác dạy ngành này nữa không ?
Tôi cũng có 1 số bài viết để trả lời cho các câu hỏi này. Thân mời các độc giả quan tâm click thêm vào link :
- http://blognhansu.net/2014/08/10/nhu-cau-ve-viec-lam-va-nhan-luc-vi-tri-nganh-nhan-su-nam-2014-ra-sao/
- http://blognhansu.net/2014/08/10/co-nen-thi-quan-tri-nhan-luc-khong-va-hoc-nganh-nay-ra-thi-de-lam-gi/

Có nên thi quản trị nhân lực không và học ngành này ra thì để làm gì ?

Lại một sáng chủ nhật nữa chạy đến, sáng nay mở mail ra thì tôi nhận được mail của một bác phụ huynh hỏi về ngành học quản trị nhân sự. Mail bác viết dài nhưng tóm lại ý là bác muốn hỏi : "có nên khuyên con thi quản trị nhân lực không và học ngành này ra thì làm gì ?". Để trả lời được câu hỏi này thì rõ ràng sẽ phải nói rất nhiều điều.

Theo một cách lý thuyết thì đầu tiên, chúng ta luôn phải xác định xem người định thi ngành đó có tố chất để làm việc này không ? Cách xác định thì có nhiều và cũng có nhiều công ty hỗ trợ việc này. Các trắc nghiệm nghề nghiệp hiện nay có nhiều trên mạng. Tuy nhiên, có lần tôi đi họp với các thầy cô phòng đào tạo trường ĐH Nhân văn. Nội dung họp là về vấn đề: có nên đưa trắc nghiệm DISC vào cho sinh viên không?. Nội dung cuộc họp có nhiều ý nhưng có một thầy thuộc chuyên ngành tâm lý đã phát biểu rằng: việc đưa một trắc nghiệm nào đó vào ứng dụng thì phải hết sức cẩn trọng vì nó có thể sẽ có tác động tâm lý, "đóng đinh" người trắc nghiệm về tương lai của họ. Điều này đồng nghĩa với việc nếu ai đó bị phán mai sau sẽ làm A thì có thể họ bị ám ảnh và theo luật hấp dẫn, có thể họ sẽ làm A thật.

Vì vậy, tôi thì tôi khuyên: chỉ cần thích là được còn lại thái độ và tính cách đều có thể học hỏi.

Tuy nhiên, tôi lại thỉnh thoảng gặp 1 số bạn nói: "em thi vào ngành quản trị nhân lực này là do khi đọc tên cách ngành thì em thấy thích cái tên này". Cho đến bây giờ thì em nhận ra là em không biết gì về nó và em cũng không thích. Bạn đó ước: ước gì hồi thi đại học em được định hướng nhỉ ?

Tôi đoán, việc thích hay không thích một ngành học có khi là do giảng viên chứ không phải là do ngành học. Người ta đã chọn một ngành nào đó vì người ta thích chứ không phải vì cái gì khác thì khó mà tự nhiên lại bảo là không thích lắm (Đây là ấn tượng ban đầu. Mà đã là ấn tượng ban đầu thì rất khó phai). Ví dụ như trường Ngoại Thương Hà Nội, có thầy Nhâm, các bạn tôi gặp học trường Ngoại Thương đều nói rằng em thích Nhân sự mặc dù không hề có ngành Quản trị Nhân lực trong trường. Hỏi kỹ ra là do có một bộ môn thầy Ngô Quý Nhâm dạy. Thầy truyền được cho các bạn niềm yêu thích nhân sự.

Vâng, bạn đã thích cái tên "quản trị nhân lực" rồi thì chúng ta sẽ tìm hiểu thêm để xác định xem thực sự là bạn có thích ngành đó không ?


Khi học quản trị nhân sự, bạn có thể làm được các công việc sau:
- Hành chính lễ tân
- Chuyên viên Quản lý đào tạo ( vị trí đào tạo ): giảng viên nội bộ hoặc nhân viên quản lý đào tạo.
- Chuyên viên tuyển dụng
- Chuyên viên chính sách – đãi ngộ
- Chuyên viên lương – chính sách (C&B)
- Chuyên viên bảo hiểm
- Chuyên viên truyền thông nội bộ
- Chuyên viên xử lý quan hệ nội bộ
- Chuyên viên dự án nhân sự (là người chuyên chạy các dự án về nhân sự – vị trí này sẽ biết nhiều. Các dự án như cán bộ nguồn …. )
- Ngoài ra nếu không làm chuyên về nhân sự thì có thể làm các công việc có liên quan đến nhân sự như :
+ Headhunter – săn đầu người (thiên hướng sale)
+ Tư vấn nhân sự
+ Quản lý đào tạo cho các công ty đào tạo
+ Sale tư vấn về các khóa học Nhân sự
+ Chuyên viên quản lý nội dung các site tuyển dụng.

Cụ thể về các công việc sẽ làm thì bạn có thể click vào các link sau:
Các công việc phòng nhân sự sẽ phải làm phần 1
Các công việc phòng nhân sự sẽ phải làm phần 2
Các công việc phòng nhân sự sẽ phải làm phần 3 – siêu dự án và …
Các công việc phòng Nhân sự phải làm … phần 4 – Thuyết ABCD …
Thuyết nhân trị – pháp trị và các công việc phòng nhân sự phải làm
Công việc của HR nhân sự là gì nhỉ??

Vậy là chúng ta đã biết học Quản trị Nhân lực ra để là gì rồi. Còn muốn biết một cách chung nhất công việc tổng quát thực tế Nhân sự, bạn tham khảo thêm ở: Nghề nhân sự là gì ?

Mức lương của Nhân sự theo 1 khảo sát lương: Mức lương của nhân sự

Tuy nhiên mức lương như vậy nhưng hiện đang có thực tế: Có phải mức lương tối thiểu của sinh viên quản trị nhân lực khi ra trường có thể đạt 5 triệu đồng/ tháng?. "... Nhưng có ai ngờ có một thực tế còn phũ phàng hơn … một thực tế còn phũ phàng hơn … Sinh viên học quản trị Nhân lực ra trường chưa chắc đã có cơ hội được làm Nhân sự. Thực tế này quả là đau lòng."

Có một số khảo sát của các đơn vị chuyên tuyển dụng như: Vietnam Work, Talentnet, CareerBuilder thì cho chúng ta biết:

Nhìn vào bảng này sẽ rõ, nhu cầu về cần tuyển người làm việc ở vị trí nhân sự (nhu cầu nhân lực vị trí nhân sự) không có ở top 10 nhưng cung về người cần làm ở vị trí nhân sự (nhu cầu việc làm vị trí nhân sự) thì lại ở top 10 >> Cung đang nhiều hơn cầu.

Tỷ lệ cạnh tranh trong lĩnh vực việc làm Nhân sự cũng cao: cứ 1 người phải cạnh tranh với 2.09 người nữa.

Đọc tiếp đến đây, các bậc phụ huynh và các bạn vẫn muốn theo tiếp nhân sự thì chúng ta có 1 số trường dạy ngành này:
- Khoa quản trị nguồn nhân lực trường Đại học kinh tế Quốc Dân
- Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn ĐHQG có đào tạo về chuyên ngành quản trị nhân lực ?
- Khoa quản trị nguồn nhân lực trường đại học Thương Mại
- Khoa quản lý lao động trường đại học Lao động và xã hội
... cả nhà tìm hiểu thêm trong quyển quy chế tuyển sinh. Sơ sơ vài trường mà Cường biết như vậy ở Hà Nội.

Chúc các bạn sớm tìm ra được câu trả lời cho riêng mình :)

Tái bút 20/7/2016: Mấy hôm nay các bạn cấp 3 thi tốt nghiệp đã biết điểm và các trường đều dự kiến điểm chuẩn của từng ngành. Điểm chuẩn vào ngành Quản trị Nhân lực ngày càng cao (người đâm đầu vào học ngày càng lớn) trong khi thị trường ngày càng bão hòa! Haizz.

Khoa quản trị nguồn nhân lực trường đại học Thương Mại

Lâu lâu lại đi tour tới thăm các trường có bộ môn quản trị nguồn Nhân lực. Thân mời cả nhà cùng ngắm nhìn vài hình ảnh về Khoa quản trị nguồn nhân lực trường đại học Thương Mại.

Thông tin cơ bản cả nhà xem tại đây:
Địa chỉ: Tầng 2 nhà T – Đại học Thương Mại – Hồ Tùng Mậu – Cầu Giấy – Hà Nội
Điện thoại: (04) 37958592
http://www.vcu.edu.vn/index.asp?progid=1&sid=3&sott=463

Đây cũng là nơi tôi có về làm giảng viên thực tế.

Một số bộ môn Khoa giảng dạy:
- Quản trị nhân lực
- Kỹ năng tìm kiếm việc làm và tuyển dụng
- Kỹ năng quản trị thời gian của nhà quản trị
- Tuyển dụng lao động
- Quan hệ lao động
- Đánh giá thực hiện công việc
- Tổ chức và định mức lao động
- Quản trị nhân lực doanh nghiệp thương mại dịch vụ
- Trả công lao động
- Kỹ năng tuyển dụng
- Tình huống quản trị nhân lực doanh nghiệp thương mại dịch vụ

>> Nhìn vào danh sách các môn học thì tôi nghĩ khoa sẽ còn phải đưa thêm khá nhiều môn học nữa như: Luật lao động chả hạn.

Khoa quan tri nguon nhan luc DH TM
Đây là sự kiện cuộc thi giao tiếp của Khoa


Các thầy cô trong bộ môn Quản trị Nguồn Nhân lực


Tôi đang trao đổi với các bạn sinh viên trong 1 giờ chia sẻ thực tế các công việc về Nhân sự.

Vậy là chúng ta đã biết trường Thương Mại có giảng về Nhân sự. Vậy trường tiếp theo sẽ là ?