Tổng hợp Điểm mới Bộ Luật lao động 2019 so với Bộ Luật 2012, Một số điều cần lưu ý Nghị định 145/2020 (có hiệu lực từ 01/02/2021) Phần 1

So sánh toàn bộ điểm mới của Bộ Luật lao động 2019 có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 so với Bộ Luật lao động 2012.

Nội dung Bộ luật lao động 2012 Bộ luật lao động 2019
1. Bố cục văn bản Bộ luật Lao động 2012 có 17 chương với 242 điều Bộ luật Lao động 2019 có 17 chương với 220 điều, giảm 22 điều so với Bộ luật Lao động năm 2012.
2. Mở rộng đối tượng áp dụng và phạm vi điều chỉnh - Phạm vi điều chỉnh: Quy định tại điều 1:

Bộ luật lao động quy định tiêu chuẩn lao động; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện tập thể lao động, tổ chức đại diện người sử dụng lao động trong quan hệ lao động và các quan hệ khác liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động; quản lý nhà nước về lao động.

 

- Đối tượng áp dụng: Theo điều 2

1. Người lao động Việt Nam, người học nghề, tập nghề và người lao động khác được quy định tại Bộ luật này.

2. Người sử dụng lao động.

3. Người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.

4. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động.

- Phạm vi điều chỉnh: Quy định tại điều 1.
Thay đổi “tổ chức đại diện tập thể lao động” thành “tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở”.
- Đối tượng áp dụng: Theo điều 2:
Tại Khoản 1 Điều 2 quy định mới bổ sung đối tượng:
Bao gồm có cả NLĐ không có quan hệ lao động
3. Quyền lợi của NLĐ được quy định theo hướng có lợi hơn Theo khoản 1 Điều 5:

NLĐ có các quyền sau đây:

a) Làm việc, tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp và không bị phân biệt đối xử;

b) Hưởng lương phù hợp với trình độ kỹ năng nghề trên cơ sở thoả thuận với NSDLĐ; được bảo hộ lao động, làm việc trong điều kiện bảo đảm về an toàn lao động, vệ sinh lao động; nghỉ theo chế độ, nghỉ hằng năm có lương và được hưởng phúc lợi tập thể;

c) Thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn, tổ chức nghề nghiệp và tổ chức khác theo quy định của pháp luật; yêu cầu và tham gia đối thoại với NSDLĐ, thực hiện quy chế dân chủ và được tham vấn tại nơi làm việc để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; tham gia quản lý theo nội quy của NSDLĐ;

d) Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật;

đ) Đình công.

Bổ sung quy định về quyền của NLĐ, cụ thể tại Điều 5 quy định bổ sung như sau:

a) Bổ sung: NLĐ không bị cưỡng bức lao động, quấy rối tình dục tại nơi làm việc;

d) Từ chối làm việc nếu có nguy cơ rõ ràng đe dọa trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe trong quá trình thực hiện công việc;

g) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

4. Về quan hệ lao động Điều 7. Quan hệ lao động

1. Quan hệ lao động giữa người lao động hoặc tập thể lao động với người sử dụng lao động được xác lập qua đối thoại, thương lượng, thoả thuận theo nguyên tắc tự nguyện, thiện chí, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau.

2. Công đoàn, tổ chức đại diện người sử dụng lao động tham gia cùng với cơ quan nhà nước hỗ trợ xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ; giám sát việc thi hành các quy định của pháp luật về lao động; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động.

Tại Điều 7 bộ luật mới quy định bổ sung cơ quan có thẩm quyền trong quan hệ lao động, cụ thể:

4. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam và các tổ chức đại diện của người sử dụng lao động khác được thành lập theo quy định của pháp luật có vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, tham gia xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định.

 

 

5. Bổ sung quy định bị nghiêm cấm trong lĩnh vực lao động Điều 8 quy định các hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực lao động:

“6. Dụ dỗ, hứa hẹn và quảng cáo gian dối để lừa gạt NLĐ hoặc lợi dụng dịch vụ việc làm, hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng để thực hiện hành vi trái pháp luật.”

Bổ sung Điều 8 về các hành vi nghiêm cấm trong lĩnh vực lao động:

6. Lôi kéo, dụ dỗ, hứa hẹn, quảng cáo gian dối hoặc thủ đoạn khác để lừa gạt người lao động hoặc để tuyển dụng người lao động với mục đích mua bán người, bóc lột, cưỡng bức lao động hoặc lợi dụng dịch vụ việc làm, hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng để thực hiện hành vi trái pháp luật.

6. Hợp đồng lao động - Theo Điều 15. Hợp đồng lao động

Hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.

- Hình thức hợp đồng lao động:

1. Hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người sử dụng lao động giữ 01 bản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Đối với công việc tạm thời có thời hạn dưới 03 tháng, các bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói.

 

- Điều 13. Hợp đồng lao động

Bổ sung thêm: “Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động.

2. Trước khi nhận người lao động vào làm việc thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động.”

- Hình thức hợp đồng lao động: Điều 14 BLLĐ 2019

Bổ sung thêm: “Hợp đồng lao động được giao kết thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử có giá trị như hợp đồng lao động bằng văn bản.

2. Hai bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói đối với hợp đồng có thời hạn dưới 01 tháng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 18, điểm a khoản 1 Điều 145 và khoản 1 Điều 162 của Bộ luật này.”

7. Loại hợp đồng lao động Theo quy định tại Điều 22 quy định: Có 3 loại hợp đồng như sau:

- Hợp đồng lao động không xác định thời hạn,

- Hợp đồng lao động xác định thời hạn (từ 12 tháng đến 36 tháng)

- Hợp đồng lao động mùa vụ (dưới 12 tháng)

 

Tại Điều 20 Luật mới quy định, Chỉ còn 2 loại hợp đồng lao động là:

a) Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng;

b) Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong thời gian không quá 36 tháng kể từ thời điểm có hiệu lực của hợp đồng.

8. NLĐ được đơn phương chấm dứt hợp đồng không cần báo trước Theo Khoản 2 Điều 37 như sau: NLĐ phải báo cho NSDLĐ biết trước:

Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

Tại khoản 2 Điều 35 Bộ luật mới quy định về quyền của người lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước trong 7 trường hợp cụ thể quy định tại điểm a), b), c), d), đ), e), g) khoản 2.

 

9. Hình thức giao kết HĐLĐ Theo Điều 16 quy định về hình thức giao kết HĐLĐ,

“2. Đối với công việc tạm thời có thời hạn dưới 3 tháng, các bên có thể giao kết HĐLĐ bằng lời nói.”

Cũng tại Điều 16 quy định về hình thức giao kết hợp đồng, gồm 2 hình thức sau:

- Bằng văn bản;

- Bằng lời nói.

Tại khoản 2 Điều 14 quy định về hình thức giao kết hợp đồng có thể thực hiện bằng lời nói như sau:

“Hai bên có thể giao kết HĐLĐ bằng lời nói đối với hợp đồng có thời hạn dưới 1 tháng, trừ trường hợp:

- (khoản 2 Điều 18) Đối với công việc theo mùa vụ, công việc nhất định dưới 12 tháng thì nhóm NLĐ từ đủ 18 tuổi trở lên có thể ủy quyền cho một NLĐ trong nhóm để giao kết HĐLĐ;

- (điểm a khoản 1 Điều 145) phải giao kết HĐLĐ bằng văn bản với người chưa đủ 15 tuổi và người đại diện theo pháp luật luật của người đó;

- (khoản 1 Điều 162) NSDLĐ phải giao kết HĐLĐ bằng văn bản với lao động là người giúp việc nhà.

Tuy nhiên, theo quy định Bộ luật mới, quy định bổ sung thêm hình thức giao kết thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử có giá trị như hợp đồng lao động bằng văn bản.

10. Hành vi người sử dụng lao động không được làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao độn Theo Điều 20 NSDLĐ không được làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động 02 hành vi sau:

1. Giữ bản chính giấy tờ tuỳ thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động.

2. Yêu cầu người lao động phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động.

Tại Điều 17 luật mới quy định NSDLĐ không được làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động 03 hành vi, trong đó bổ sung hành vi tại khoản 3 như sau:

“3. Buộc NLĐ thực hiện HĐLĐ để trả nợ cho NSDLĐ”

 

11. Thêm điều kiện về thời gian thử việc đối với NLĐ Theo quy định tại Điều 27 quy định về thời gian thử việc căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc 01 lần đối với một công việc và bảo đảm 03 điều kiện sau đây:

1. Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên;

2. Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ.

3. Không quá 6 ngày làm việc đối với công việc khác.

Bộ luật mới quy định tại Điều 25 như sau: Thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc 1 lần đối với 1 công việc và bảo đảm 04 điều kiện trong đó bổ sung 1 điều kiện so với hiện hành như sau:

“1. không quá 180 ngày đối với công việc của người quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật doanh nghiệp, Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp”

12. Các trường hợp tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động Theo Điều 32 quy định 5 trường hợp tạm hoãn thực hiện HĐLĐ như sau:

1. NLĐ đi làm nghĩa vụ quân sự.

2. NLĐ bị tạm giữ, tạm giam theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

3. NLĐ phải chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc.

4. Lao động nữ mang thai theo quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

5. Các trường hợp khác do hai bên thoả thuận.

 

Tại Điều 30 Bộ luật mới quy định 08 trường hợp tạm hoãn thực hiện HĐLĐ, như sau:

a) Người lao động thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ tham gia Dân quân tự vệ;

b) Người lao động bị tạm giữ, tạm giam theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự;

c) Người lao động phải chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc cơ sở giáo dục bắt buộc;

d) Lao động nữ mang thai theo quy định tại Điều 138 của Bộ luật này;

đ) Người lao động được bổ nhiệm làm người quản lý doanh nghiệp của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ;

e) Người lao động được ủy quyền để thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp;

g) Người lao động được ủy quyền để thực hiện quyền, trách nhiệm của doanh nghiệp đối với phần vốn của doanh nghiệp đầu tư tại doanh nghiệp khác;

h) Trường hợp khác do hai bên thỏa thuận.

13. Chấm dứt hợp đồng lao động Theo Điều 36 Luật hiện hành quy định 10 trường hợp chấm dứt hợp đồng, cụ thể:

1. Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 192 của Bộ luật này.

2. Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

3. Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

4. NLĐ đủ điều kiện về thời gian đóng BHXH và tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 187 của Bộ luật này.

5. NLĐ bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án.

6. NLĐ chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết

7. NSDLĐ là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; NSDLĐ không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.

8. NLĐ bị xử lý kỷ luật sa thải theo quy định tại khoản 3 Điều 125 của Bộ luật này.

9. NLĐ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật này.

10. NSDLĐ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật này; NSDLĐ cho NLĐ thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhập, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã.

Theo Điều 24 Bộ Luật lao động 2019 quy định 13 trường hợp chấm dứt HĐLĐ, bổ sung thêm 3 trường hợp quy định như sau:

5. Người lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam bị trục xuất theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

7. Người sử dụng lao động là cá nhân chết; bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết. Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động hoặc bị cơ quan chuyên môn về đăng ký kinh doanh thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra thông báo không có người đại diện theo pháp luật, người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật.

12. Giấy phép lao động hết hiệu lực đối với người lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam theo quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

13. Trường hợp thỏa thuận nội dung thử việc ghi trong hợp đồng lao động mà thử việc không đạt yêu cầu hoặc một bên hủy bỏ thỏa thuận thử việc

Còn tiếp... Đọc tiếp "Tổng hợp Điểm mới Bộ Luật lao động 2019 so với Bộ Luật 2012, Một số điều cần lưu ý Nghị định 145/2020 (có hiệu lực từ 01/02/2021) Phần 1"

Kỹ thuật xây dựng nội quy lao động

Cuối tuần, ngồi tổng hợp lại kiến thức được học tại Dự án HRE - Trải nghiệm nghề Nhân sự của HrShare. Chỉ còn 18 ngày nữa là áp dụng Bộ Luật lao động 2019, mình có viết lại những điểm cần lưu ý khi xây dựng nội quy lao động.
Cả nhà cùng tham khảo và góp ý thêm nhé.
Chúc cả nhà cuối tuần vui vẻ !

1.      Sơ lược

Nội quy công ty - hay còn gọi là nội quy lao động - được hiểu là văn bản pháp lý do người sử dụng lao động ban hành, quy định về các quy tắc xử sự mà người lao động có trách nhiệm bắt buộc phải tuân thủ khi tham gia quan hệ lao động nhằm xác lập trật tự lao động, chuẩn mực chung trong một doanh nghiệp.

Nội quy lao động được coi là “luật” trong nội bộ doanh nghiệp mà toàn doanh nghiệp thực hiện theo giữ đúng kỉ luật, quyền và nghĩa vụ các bên.

2.      Nội dung:

Quy trình xây dựng và đăng ký nội quy lao động:

Bước 1: Xây dựng nội quy công ty

  • Căn cứ pháp lý của một văn bản Nội quy công ty:

BLLĐ 2019: Bộ luật lao động hiện hành (BLLĐ) quy định các nội dung cần có của Nội quy;

NĐ 05/2015/NĐ-CP: Hướng dẫn một số nội dung của BLLĐ 2012 có liên quan;

TT 19/2003/TT-BLĐTBXH đã được sửa đổi, bổ sung tại NĐ 33/2003/NĐ-CP: Dùng để lấy form mẫu, thông tư này đã hết hiệu lực kể từ ngày 01/01/2016, tuy nhiên phần form mẫu vẫn đang sử dụng và chưa được thay thế;

CV 340/LĐ-TBXH: Sử dụng để lấy form mẫu, tình trạng không xác định và sẽ hết hiệu lực khi có văn bản thay thế;

TT 29/2015/TT-BLĐTBXH: Hướng dẫn NĐ 05/2015 về thương lượng tập thể, thỏa ước lao động tập thể và tranh chấp lao động, tham khảo để xây dựng Nội quy;

TT 23/2015/TT-BLĐTBXH: Hướng dẫn NĐ 05/2015 về tiền lương, đây cũng là một nội dung của Nội quy.

  • Căn cứ khác khi xây dựng Nội quy đó là các văn bản nội bộ (Nêu tên các văn bản nội bộ vào trong Nội quy .Ví dụ: Các quy định, quy chế, chính sách của tổ chức vào: Chính sách về đánh giá, chính sách lương, chính sách đào tạo) vì chỉ có những nội dung được quy định trong Nội quy lao động/ Nội quy công ty mới được xử lý kỷ luật lao động, được sử dụng làm tranh chấp lao động.

Một văn bản Nội quy công ty đầy đủ chi tiết bắt buộc phải có tính pháp lý. Dưới đây là một số điều khoản trong nội quy công ty doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý để có thể bảo vệ tốt hơn quyền lợi cho người lao động cũng như chính doanh nghiệp:

  • Quy định về hợp đồng thử việc: Chẳng hạn, doanh nghiệp không nên yêu cầu nhân viên thử việc phải báo trước bao nhiêu ngày khi có ý định nghỉ. Vì như thế là trái với quy định pháp luật. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc; mà không cần báo trước và không phải bồi thường.
  • Hình thức xử lý, kỷ luật lao động:Nhiều doanh nghiệp xử lý, kỷ luật lao động bằng cách luân chuyển bộ phận khác với mức lương thấp hơn. Theo điều 29 Bộ Luật lao động 2019: “Người sử dụng lao động quy định cụ thể trong nội quy lao động những trường hợp do nhu cầu sản xuất, kinh doanh mà người sử dụng lao động được tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động.”

Theo quy định tại Điều 124 Bộ luật Lao động 2019; các hình thức xử lý kỷ luật lao động chỉ bao gồm khiển trách. Kéo dài thời hạn nâng lương không quá 06 tháng, cách chứ, sa thải. Nếu vi phạm lỗi này và không có lý do chính đáng; doanh nghiệp có thể bị phạt từ 6.000.000VNĐ đến 14.000.000VNĐ.

  • Trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo của người lao động: Theo Khoản 2 Điều 61 Luật giáo dục nghề nghiệp 2014: Người tốt nghiệp các khóa đào tạo do người sử dụng lao động cấp học bổng, chi phí đào tạo phải làm việc cho người sử dụng lao động theo thời hạn đã cam kết trong hợp đồng đào tạo; trường hợp không thực hiện đúng cam kết thì phải bồi hoàn học bổng, chi phí đào tạo
  • Quy định về làm thêm giờ: Nhiều doanh nghiệp thường chỉ quan tâm đến lợi ích của mình; mà quên mất quyền lợi của người lao động khi quy định nội dung này. Theo pháp luật, doanh nghiệp cần nhân viên làm thêm giờ cần phải có sự đồng ý của người lao động. Bên cạnh đó, cần đảm bảo đủ các điều kiện về số giờ làm thêm theo quy định tại Khoản 2,3 Điều 107 Bộ Luật Lao động 2019

1.2  Những nội dung bắt buộc trong Nội quy công ty:

Để xây dựng nội quy công ty, cần phải đảm bảo có được các nội dung mà pháp luật quy định, cụ thể là tại Điều 118 của Bộ luật Lao Động 2019 và nghị định số 05/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của luật lao động. Theo đó, 5 nội dung sau đây bắt buộc phải có trong một bản Nội quy công ty:

  • Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi:

Thời giờ làm việc bình thường trong 01 ngày, trong 01 tuần;

Ca làm việc; thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc ca làm việc;

Làm thêm giờ (nếu có), làm thêm giờ trong các trường hợp đặc biệt;

Thời điểm các đợt nghỉ ngắn ngoài thời gian nghỉ giữa giờ, nghỉ chuyển ca, ngày nghỉ hàng tuần, nghỉ hàng năm, nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương.

  • Trật tự tại nơi làm việc:

Phạm vi làm việc, đi lại trong thời giờ làm việc;

Văn hóa ứng xử, trang phục;

Tuân thủ phân công, điều động của người sử dụng lao động (trừ trường hợp thấy rõ nguy cơ xảy ra TNLĐ, BNN, đe dọa nghiêm trọng tính mạng và sức khỏe của mình).

  • An toàn lao động, vệ sinh lao động tại nơi làm việc:

Trách nhiệm nắm vững các quy định về an toàn, vệ sinh lao động, phòng chống cháy nổ;

Chấp hành biện pháp bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động, phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

Tuân thủ nội quy, quy trình, quy chuẩn, tiêu chuẩn an toàn lao động, vệ sinh lao động;

Sử dụng và bảo quản phương tiện bảo vệ cá nhân;

Vệ sinh, khử độc, khử trùng tại nơi làm việc.

  • Bảo vệ tài sản, bí mật công nghệ, bí mật kinh doanh, sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động: Danh mục tài sản, tài liệu, bí mật công nghệ, bí mật kinh doanh, sở hữu trí tuệ phải bảo vệ thuộc phạm vi trách nhiệm được giao.

Đối với nội dung này, bạn cần phải phân loại rõ các tài sản là gì, các loại đó bao gồm những gì và cách sử dụng, bảo vệ chúng như thế nào. Cụ thể là chia thành tài sản hữu hình,cơ sở vật chất và một loại nữa là tài sản vô hình, bí mật công nghệbí mật kinh doanh.

Bao gồm:

Sử dụng mạng nội bộ, mạng xã hội nội bộ, file-server và internet.

Sử dụng e-mail, Sử dụng phần mềm, máy tính và các thiết bị mạng, di động và ngoại vi.

Sử dụng các thiết bị ghi hình, ghi âm.

Phòng chống Virus.

Vận chuyển thông tin, thông tin bảo mật và bí mật kinh doanh.

Phát ngôn, chia sẻ và cung cấp thông tin trên các phương tiện truyền thông, vv…).

  • Các hành vi vi phạm kỷ luật lao động, hình thức xử lý kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất:

Danh mục hành vi vi phạm:

Mức độ vi phạm tương ứng với các hình thức xử lý kỷ luật lao động;

Mức độ thiệt hại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

  • Phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc; trình tự, thủ tục xử lý hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc;
  • Trách nhiệm vật chất;
  • Người có thẩm quyền xử lý kỷ luật lao động.

Bước 2: Lấy ý kiến của BCH công đoàn

Sau khi xây dựng xong thì bước tiếp theo đó là bạn tổ chức lấy ý kiến của BCH công đoàn cơ sở, nếu chưa thành lập BCH công đoàn cơ sở thì lấy ý kiến của BCH công đoàn lâm thời (do BCH công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở làm việc với người sử dụng lao động và trực tiếp chỉ định các đoàn viên công đoàn làm BCH lâm thời).

Lấy ý kiến bằng cách tổ chức họp, bao gồm các thành phần sau:

  • Ban Lãnh đạo công ty:
  • BCH Công đoàn cơ sở/lâm thời;
  • Tập thể người lao động

Nhưng thực tế rất ít doanh nghiệp tổ chức họp để lấy ý kiến theo kiểu này, đặc biệt là các doanh nghiệp lớn.

Các doanh nghiệp này thường là tổ chức lấy ý kiến qua email. Sau đó tổ chức 01 cuộc họp nhỏ bao gồm người đại diện NSDLĐ, BCH công đoàn cơ sở hoặc lâm thời và một số quản lý bộ phận đại diện cho tập thể lao động. Để làm rõ các ý kiến (nếu có) và tiến đến là thống nhất nội dung và ký biên bản họp.

Bước 3: Đăng ký nội quy lao động

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ban hành nội quy lao động, doanh nghiệp phải nộp hồ sơ đăng ký nội quy lao động tại cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh. (Sở Lao động Thương Binh và Xã hội) Trình tự, thủ tục đăng ký nội quy lao động như sau:

3.1 Nộp hồ sơ

  • Theo Điều 120 của Bộ luật, hồ sơ đăng ký nội quy gồm:

Văn bản đề nghị đăng ký nội quy lao động

Nội quy lao động

Văn bản góp ý của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở;

Các văn bản của người sử dụng lao động có quy định liên quan đến kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất mà có nội dung được đưa vào trong Nội quy

  • Doanh nghiệp cần chuẩn bị ít nhất 2 bộ hồ sơ: 1 bộ cơ quan nhà nước giữ và 1 bộ gửi lại cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu công ty của bạn có 3 hoặc nhiều chi nhánh thì nên làm nhiều bộ để đăng ký, sau đó gửi cho cơ quan nhà nước nơi các chi nhánh hoạt động (khoản 8, điều 28 NĐ 05/2015).

3.2 Cơ quan chuyên môn tiếp nhận hồ sơ

  • Đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh – Sở LĐTB & XH cấp tỉnh, nơi đăng ký kinh doanh (Điều 119 Bộ Luật Lao động 2019)
  • Theo Điều 119 của Bộ Luật lao động 2019 : Căn cứ điều kiện cụ thể, cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể ủy quyền cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện việc đăng ký nội quy lao động theo quy định tại Điều này.
  • Khi nhận được đầy đủ hồ sơ đăng ký nội quy lao động, cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh cấp giấy xác nhận đã nhận hồ sơ đăng ký nội quy lao động cho người sử dụng lao động. Giấy xác nhận nhận đã nhận hồ sơ đăng ký nội quy lao động phải có các nội dung quy định tại Khoản 1 Điều 10 Thông tư 47/2015/TT-BLĐTBXH .

3.3 Nhận kết quả và hiệu lực của nội quy lao động

  • Nhận kết quả

Điều 119 của Bộ Luật lao động 2019:

Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đăng ký nội quy lao động, nếu nội dung nội quy lao động có quy định trái với pháp luật thì cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thông báo, hướng dẫn người sử dụng lao động sửa đổi, bổ sung và đăng ký lại.

  • Hiệu lực

Điều 121 của Bộ Luật lao động 2019:

Nội quy lao động có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 119 của Bộ luật này nhận được đầy đủ hồ sơ đăng ký nội quy lao động.

Trường hợp người sử dụng lao động sử dụng dưới 10 người lao động ban hành nội quy lao động bằng văn bản thì hiệu lực do người sử dụng lao động quyết định trong nội quy lao động.

Bước 4: Ban hành Nội quy

  • Giao trách nhiệm cho một người phụ trách công việc thực thi bộ Nội quy công ty sẽ là một giải pháp thích hợp để đào tạo và đảm bảo sự tuân thủ trong công ty.
  • Thông báo cho toàn doanh nghiệp và giải thích những thắc mắc liên quan. Các phương tiện tốt nhất để phân phối chính sách có thể là e-mail, bảng tin, các cuộc họp nhóm nhỏ hay toàn thể nhân viên của công ty.
  • Cập nhật vào nơi lưu trữ các chính sách của doanh nghiệp như Sổ tay nhân viên hay mạng nội bộ doanh nghiệp, thông báo cho nhân viên nơi họ có thể truy cập vào chính sách sau này
  • Đào tạo nội bộ: Bên cạnh việc thông báo và theo sát quá trình áp dụng, người phụ trách thực thi Nội quy công ty cũng cần đảm bảo toàn bộ nhân viên hiểu và nắm được hết các quy tắc của doanh nghiệp, theo dõi nhân viên nào chưa, đang và đã hoàn thành khóa đào tạo, hoặc ai đó cần được đào tạo lại.

3.      Thực hành:

Mẫu Nội quy công ty mới nhất áp dụng năm 2021:

 "

Tên DN: …………………

Địa chỉ: …………………….

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự Do – Hạnh Phúc

 

NỘI QUY LAO ĐỘNG

  • Căn cứ Bộ luật Lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 20/11/2019;
  • Căn cứ Nghị định 45/2013/NĐ-CP ngày 10/05/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động;
  • Căn cứ Nghị định 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động;
  • Căn cứ Nghị định 148/2018/NĐ-CP ngày 24/10/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 05/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động;
  • Căn cứ tổ chức sản xuất kinh doanh và tổ chức lao động trong doanh nghiệp;
  • Sau khi trao đổi và thống nhất với Ban chấp hành Công đoàn Công ty;
  • Giám đốc Công ty ban hành Nội quy lao động trong Công ty gồm các quy định sau:

CHƯƠNG I:

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

  • Nội quy lao động là những quy định về kỷ luật lao động mà người lao động phải thực hiện khi làm việc tại doanh nghiệp; quy định việc xử lý đối với người lao động có hành vi vi phạm kỷ luật lao động; quy định trách nhiệm vật chất đối với người lao động vi phạm kỷ luật lao động làm thiệt hại tài sản của Công ty.
  • Nội quy lao động áp dụng đối với tất cả mọi người lao động làm việc trong doanh nghiệp theo các hình thức và các loại hợp đồng lao động, kể cả người lao động trong thời gian tập việc, thử việc, học nghề.
  • Những nội dung quy định trong bản nội quy lao động này có hiệu lực thi hành kể từ ngày được Sở Lao Động – Thương Binh Xã Hội TP.HCM xác nhận đăng ký.

CHƯƠNG II:

THỜI GIỜ LÀM VIỆC - THỜI GIAN NGHỈ NGƠI

I.                   Thời giờ làm việc và nghỉ ngơi.

Điều 1: Biểu thời gian làm việc trong ngày:

  • Số giờ làm việc trong ngày: 8 tiếng.
  • Số ngày làm việc trong tuần: 5.5 ngày. Từ thứ Hai đến trưa thứ Bảy.
  • Thời điểm bắt đầu làm việc trong ngày: 8h sáng
  • Thời điểm kết thúc làm việc trong ngày: 5h chiều.
  • Thời gian nghỉ ngơi trong ngày: 11h 30’ – 12h 30’

Điều 2: Ngày nghỉ hằng tuần:

Chiều thứ 7 và ngày Chủ nhật.

Điều 3: Ngày nghỉ người lao động được hưởng nguyên lương:

  1. Nghỉ lễ, tết hàng năm: Theo điều ..... của Bộ luật Lao động năm...... quy định:

Tết Dương Lịch: Một ngày (ngày 1 tháng 1 dương lịch).

Tết Âm lịch: Bốn ngày (một ngày cuối năm và 3 ngày đầu năm âm lịch).

Ngày chiến thắng: Một ngày (ngày 30 tháng 4 dương lịch).

Ngày Quốc tế lao động: Một ngày (ngày 1 tháng 5 dương lịch).

Ngày Quốc khánh: Một ngày (ngày 2 tháng 9 dương lịch).

Nếu những ngày nghỉ nói trên trùng vào nghỉ hằng tuần thì người lao động được nghỉ bù vào ngày tiếp theo.

  1. Nghỉ phép hàng năm:
  • Người lao động có 12 tháng làm việc tại Công ty thì được nghỉ 12 ngày phép năm hưởng nguyên lương. Mỗi tháng người lao động được nghỉ một ngày phép, nếu không nghỉ thì ngày phép đó sẽ cộng dồn vào những tháng sau. (dựa theo điều .......). Cụ thể như sau: Nếu tháng 1 nhân viên có một ngày nghỉ phép hưởng nguyên lương mà không sử dụng thì có thể cộng dồn vào tháng 2. Đến tháng 2 có nhu cấu sử dụng thì có thể sử dụng cả 2 ngày phép. Nhân viên cũng có thể sử dụng một lần phép năm nếu không ảnh hưởng đến công việc.
  • Nếu thời gian làm việc dưới 12 tháng thì số ngày phép năm được tính theo tỉ lệ tương ứng với số tháng làm việc. (dựa theo Khoản ...... điều ......)
  • Người lao động sẽ có thêm một ngày phép năm hưởng nguyên lương cho mỗi 5 (năm) năm làm việc (dựa theo điều ......)

Quy định cách giải quyết số ngày phép chưa nghỉ hết trong năm:(dựa theo điều .......)

  • Trường hợp ngày nghỉ phép năm vẫn còn (người lao động chưa sử dụng hết) thì những ngày nghỉ này sẽ được chuyển sang cho năm kế tiếp. Tuy nhiên người lao động phải nghỉ hết ngày phép của mình trước Quý II của năm sau, tức là trước ngày 30 tháng 6 năm sau.
  • Khi thôi việc nếu người lao động chưa nghỉ hết phép năm của mình thì được thanh toán tiền lương của những ngày phép chưa nghỉ bằng 100% tiền lương công việc đang làm.
  • Nếu do yêu cầu công việc, người lao động không thể nghỉ phép, Công ty sẽ thanh toán tiền lương những ngày phép đó bằng 300% tiền lương của ngày làm việc bình thường.

Điều 4: Nghỉ việc riêng có lương

Người lao động có quyền nghỉ và hưởng đầy đủ lương như những ngày đi làm trong các trường hợp sau:

  • Bản thân kết hôn: được nghỉ 5 ngày.
  • Con lập gia đình: được nghỉ 1 ngày.
  • Bố mẹ (cả bên chồng và bên vợ) chết, hoặc vợ, chồng, con chết: đuợc nghỉ 3 ngày.
  • Người lao động là chồng có vợ sinh con lần 1 và 2: được nghỉ 2 ngày.

Điều 5: Nghỉ việc riêng không lương:

  • Người lao động có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để xin nghỉ không hưởng lương, tuy nhiên chỉ trong trường hợp có lý do thật sự chính đáng.
  • Quy định người lao động có thề xin nghỉ không lương tối đa: 14 ngày trong năm.

Điều 6: Ngày nghỉ bệnh:

  • Nếu người lao động bị bệnh thì người thân của người lao động phải thông báo cho Công ty biết trong thời gian sớm nhất.
  • Trường hợp nghỉ nhiếu ngày liên tiếp thì sau khi nghỉ bệnh người lao động phải nộp đơn xin nghỉ bệnh cùng với giấy xác nhận của Bác sĩ, nếu không sẽ bị khấu trừ vào ngày phép năm.
  • Trong thời gian nghỉ bệnh theo giấy của Bác sĩ, người lao động được hưởng chế độ theo quy định của Bảo Hiểm Xã Hội.
  • Thời gian tối đa người lao động được hưởng trợ cấp ốm đau như sau: (dựa theo điều......, nghị định số...../...../CP)

30 ngày trong một năm nếu đã đóng Bảo hiểm Xã hội dưới 15 năm.

40 ngày trong một năm nếu đã đóng Bảo hiểm Xã hội từ 15 năm đến dưới 30 năm.

50 ngày trong một năm nếu đã đóng Bảo hiểm Xã hội từ 30 năm trở lên.

Điều 7: Thủ tục xin nghỉ và thẩm quyền cho phép người lao động nghỉ trong các trường hợp trên:

  • Người nào muốn nghỉ phép năm thì phải làm đơn và được sự chấp thuận của cấp trên. Trong các trường hợp nghỉ từ 5 (năm) ngày trở lên thì phải làm đơn xin phép trước 2 tuần lễ.
  • Trường hợp khẩn cấp , xin nghỉ trong ngày, người lao động có thề thông báo bằng điện thoại cho cấp trên của mình trước 10h sáng hôm đó.

Điều 8: Những quy định đối với lao động nữ:

Để bảo đảm cho người phụ nữ được bình đẳng về mọi mặt, những quy định đối với người lao động nữ sẽ tuân thủ theo các điều ..., ...., ... của Bộ Luật động Việt Nam như sau:

  • Người lao động nữ được nghỉ trước và sau khi sinh con, cộng lại từ 4 (bốn) đến 6 (sáu) tháng do Chính phủ quy định tùy theo điếu kiện lao động, tính chất công việc. Nếu sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ 2 trở đi , cứ mỗi con người mẹ sẽ được nghỉ thêm 30 ngày. Quyền lợi của người lao động nữ trong thời gian nghỉ thai sản được quy định theo điều ........của Bộ luật Lao động này.
  • Khi nộp đơn xin nghỉ thai sản, người lao động phải đính kèm các giấy xác nhận của Bác sĩ. Hết thời gian nghỉ thai sản quy định trên, nếu có nhu cầu, người lao động nữ có thể nghỉ thêm một thời gian không hưởng lương theo thỏa thuận với người sử dụng lao động. Người lao động nữ có thể đi làm việc trước khi hết thời gian thai sản, nếu đã nghỉ ít nhất được 2 tháng sau khi sinh và có giấy của thầy thuốc chứng nhận việc trở lại làm sớm không có hại cho sức khỏe và phải báo cho người lao động biết trước. Trong trường hợp này, người lao động nữ vẫn có thể tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản ngòai tiền lương của những ngày làm việc.
  • Người sử dụng lao động không được sử dụng người lao động nữ có thai từ tháng tứ 7 hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi làm việc thêm giờ hoặc làm việc ban đêm và đi công tác xa.
  • Người lao động nữ trong thời gian nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc mà vẫn hưởng đủ lương.
  • Người sử dụng lao động bảo đảm chỗ làm việc cho người lao động sau khi kết thúc thời gian nghỉ sanh nếu trước đó vẫn giữ đúng các điều khỏan trong HĐLĐ và tuân thủ đúng nội quy Công ty.

CHƯƠNG III:

TRẬT TỰ NƠI LÀM VIỆC:

Điều 9: Thủ tục vào ra Công ty trong và ngoài giờ làm việc:

  • Trong giờ làm việc, người lao động phải có mặt tại địa điểm làm việc theo quy định, không được làm bất cứ công việc riêng nào ngoài công việc được giao.
  • Không được vắng mặt tại Công ty nếu không có lý do chính đáng và phải thông báo cho cấp trên biết mỗi khi ra ngoài công tác.
  • Không được ra vào công ty ngoài giờ làm việc và các ngày nghỉ nếu không có sự chấp thuận của cấp trên.
  • Không gây mất trật tự trong giờ làm việc.

Điều 10: Quy định việc tiếp khách trong doanh nghiệp:

  • Không giao tiếp bằng văn bản hoặc nói chuyện trong Công ty hay giao tiếp với những người bên ngoài Công ty với những nội dung có thể công kích nhau.
  • Người lao động không được phép dùng máy tính của Công ty để chuyển hoặc nhận những văn bản, hình ảnh mang tính kỳ thị tôn giáo, dân tộc hoặc bất kỳ nội dung nào có ý quấy rối hay lăng mạ người khác.

Điều 11: Quy định về tác phong, trang phục, thái độ làm việc nơi công sở:

  • Tất cả mọi người phải có phong thái trang nhã và trang phục thích hợp với môi trường làm việc văn phòng.
  • Người lao động phải có thái độ tích cực, có tinh thần trách nhiệm trong công việc.

Điều 12: Những quy định khác:

  1. Rượu và các chất kích thích
  • Để tỏ ra có tinh thần trách nhiệm đối với người lao động và khách hàng, Công ty phải duy trì một môi trường trong lành và khỏe mạnh, công ty ngăn cấm hoàn toàn việc sản xuất, phân phối hoặc sử dụng các chất cồn và thuốc lá bất hợp pháp trong công việc.
  • Người lao động có biều hiện bị tác động của cồn hoặc các loại thuốc bất hợp pháp sẽ không được cho làm việc và phải bị xử lý kỷ luật theo quy định.
  1. Đánh bạc
  • Theo nguyên tắc của Công ty, bài bạc sẽ không được cho phép và bất cứ người lao động nào tham gia vào các hoạt động này sẽ phải chịu các hình thức kỷ luật.
  1. Thông tin cá nhân:
  • Các thông tin liên quan đến trình độ và việc làm của mỗi người lao động với công ty sẽ được lưu trữ bởi Ban Giám Đốc Công ty.
  • Các thông tin cá nhân sẽ được giữ kín hoàn tòan và chỉ được truy xuất bởi các giới chức có thẩm quyền và người lao động của Công ty. Dù trong bất kỳ hòan cảnh nào người lao động cũng không được phép nộp các tài liệu của họ mà bằng cách đó cho phép họ có thể thay đổi thông tin và văn bản.
  • Cấp trên có thể mượn tài liệu cá nhân khi có lý do chính đáng và các tài liệu cấp dưới quyền hay những người có liên quan tới bộ phận của họ. Cấp trên phải bảo đảm là không có người khác sử dụng các tài liệu này.
  • Một người lao động có thể được phép xem tài liệu của mình khi có sự hiện diện của cấp trên hoặc Giám Đốc.

CHƯƠNG IV

AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG

Điều 13: Trách nhiệm của người sử dụng lao động:

  • Công ty phải bảo đảm vệ sinh trong môi trường làm việc và an toàn cho người lao động, bảo đảm sức khỏe cho người lao động.
  • Công ty tổ chức khám sức khỏe định kỳ hàng năm cho người lao động.

Điều 14: An toàn lao động:

  • Tầt cả mọi người phải nghiêm túc tuân thủ các quy định, tiêu chuần về an toàn lao động.
  • Người lao động có quyền từ chối hoặc rời bỏ nơi làm việc khi thấy rõ có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động, đe dọa tính mạng hoặc sức khỏe của bản thân hoặc cho những người khác cho đến khi sự cố được khắc phục.
  • Người lao động có bệnh được phép đề nghị xin nghỉ để bảo đảm an toàn cho người lao động đó cũng như những người khác.
  • Lãnh đạo có trách nhiệm bảo đảm thực hiện trang bị bảo hiểm lao động theo quy định của pháp luật về an toàn và vệ sinh lao động, bảo vệ môi trường.

Điều 15: Vệ sinh lao động:

  • Trước khi rời khỏi chỗ làm, người lao động phải vệ sinh nơi làm việc, kiểm tra thiết bị điện, nước tại chỗ. Bảo đảm các thiết bị đã được tắt, khóa cẩn thận.
  • Người lao động phải chịu trách nhiệm bảo dưỡng, vệ sinh các thiết bị điện tại chỗ làm việc.
  • Người lao động phải chịu trách nhiệm giữ các thiết bị điện tại chỗ làm việc sạch sẽ.
  • Phòng cháy chữa cháy:
  • Người lao động phải triệt để chấp hành các quy định, quy chế về phòng cháy chữa cháy.
  • Không được mang vật dễ cháy nỗ vào Công ty và đặc biệt nghiêm cấm hút thuốc lá trong phòng làm việc.

CHƯƠNG V:

BẢO VỆ TÀI SẢN VÀ BÍ MẬT CÔNG NGHỆ KINH DOANH

Điều 16: Bảo vệ tài sản:

  • Người lao động trong Công ty phải trung thực, thật thà, chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản Công ty; nếu làm thất thoát, hư hỏng thì phải bồi thường.
  • Người lao động không được phép mang các dụng cụ, máy móc, văn bản và bất kỳ tài sản nào của Công ty ra khỏi văn phòng mà không có sự đồng ý của cấp trên.

Điều 17: Giữ bí mật công nghệ, kinh doanh:

  • Trong khi đang làm việc cho Công ty, người lao động không được tiết lộ hoặc yêu cầu tiết lộ các thông tin bí mật thuộc quyền sỡ hữu của Công ty về khách hàng hoặc nhà cung cấp cho những người không có quyền hạn hoặc bất cứ ai ngoại trừ những người được khách hàng cho phép hay cơ quan pháp luật.
  • Ví dụ về các thông tin thuộc quyền sỡ hữu và thông tin bí mật bao gồm nhưng không giới hạn, kế họach kinh doanh, quá trình kinh doanh, danh sách khách hàng, thông tin người lao động, các thông tin không được công bồ trong quá trình thuê mướn người lao động, các thông tin về khách hàng, kỹ thuật và các hệ thống bao gồm các chương trình của Công ty.
  • Ngăn ngừa việc cố ý hay không cồ ý tiết lộ các thông tin về quyền sở hữu và thông tin bí mật bằng cách giảm tối thiều rủi ro, người lao động không có thẩm quyền truy xuất vào các thông tin này, các phương pháp
  • phòng ngừa sẽ được thực hiện để bảo đảm các công việc giấy tờ liên quan tới công việc và các văn bản được tạo ra, sao chép, bản fax được lưu trữ và hủy bỏ theo quy định của Công ty.
  • Việc ra vào vùng làm việc và truy xuất máy tính sẽ được điều khiển hợp lý. Người lao động không được phép thảo luận về các vấn đề nhạy cảm hoặc các thông tin mật ở nơi công cộng như thang máy, hành lang, nhà hàng, nhà vệ sinh và các phương tiện di chuyển công cộng.
  • Bảo mật thông tin khách hàng là ưu tiên hàng đầu của mọi người trong Công ty.
  • Mọi người phải bảo vệ, tùy thuộc vào mức độ an toàn nghiêm ngặt, các thông tin cần được bảo mật mà khách hàng cung cấp cho họ.
  • Công ty có những nguyên tắc riêng cam kết với khách hàng và xử lý các định nghĩa, tài liệu, giám sát, và quản lý an toàn các tài sản thông tin này. Tất cả người lao động có trách nhiệm hiểu rõ và tuân thủ các nguyên tắc và cách xử lý này.

CHƯƠNG VI:

HÀNH VI VI PHẠM KỶ LUẬT LAO ĐỘNG, HÌNH THỨC XỬ LÝ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG

I.                   Các hành vi vi phạm kỷ luật lao động:

  • Vi phạm nội quy về thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi của Công ty.
  • Không chấp hành mệnh lệnh điều hành công việc của người sử dụng lao động, nếu mệnh lệnh này đúng và không ảnh hưởng cho doanh nghiệp hay bất kỳ cá nhân nào về tài sản và tính mạng.
  • Vi phạm nội quy về an toàn lao động và vệ sinh lao động.
  • Vi phạm quy định về bảo vệ tài sản và bí mật công nghệ của Công ty.
  • Có hành vi trộm, tham ô và phá hoại công ty.

II.                Hình thức xử lý:

Hình thức khiển trách bằng miệng:

Đối với các trường hợp vi phạm kỷ luật lần đầu, nhưng không gây ra hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. Các vi phạm kỷ luật sau sẽ được khiển trách bằng miệng:

  • Đi trễ về sớm hơn giờ làm việc quy định 7 lần trong một tháng
  • Ra khỏi công ty trong giờ làm việc 5 lần trong một tháng mà không có sự đồng ý của lãnh đạo, ngoại trừ trường hợp khẩn cấp và lý do chính đáng.
  • Nghỉ việc không lý do 2 ngày cộng dồn trong một tháng
  • Gây mất trật tự trong giờ làm việc.
  • Phong thái và trang phục không thích hợp với công việc cũng như nơi làm việc.
  • Có thái độ khiếm nhã đối với khách hàng, cấp trên và đồng nghiệp.
  • Không tuân thủ các quy định, tiêu chuẩn về an toàn, vệ sinh lao động đã quy định ở Điều .....,.....,.....trong Bảng nội quy này.

Hình thức khiển trách bằng văn bản:

Nếu vi phạm các lỗi nêu trên lần thứ hai trong vòng 1 tháng hoặc vi phạm lần đầu (mức độ nặng) các hình thức vi phạm sau:

  • Sử dụng danh nghĩa Công ty cho việc riêng.
  • Không hoàn thành nhiệm vụ, công việc được giao mà không có lý do chính đáng.
  • Không chấp hành mệnh lệnh của người sử dụng lao động.
  • Đồng phạm, che dấu các hành vi vi phạm quy định của Công ty.
  • Cản trở giao dịch giữa công ty và khách hàng, và ngược lại.
  • Giả mạo chứng nhận của Bác sĩ hoặc những giấy tờ khác để lừa dối công ty.
  • Cãi hoặc đánh nhau với người khác trong giờ làm việc hoặc tại nơi làm việc.
  • Vi phạm điều..., ... , ... đã quy định trong Bảng nội quy này.

Hình thức kéo dài thời hạn nâng lương không quá 6 tháng hoặc chuyển làm công tác khác có mức lương thấp hơn, trong thời hạn tối đa là 6 tháng hoặc cách chức: được áp dụng đối với người lao động đã bị khiển trách bằng văn bản mà vẫn tái phạm trong thời gian 3 tháng kể từ ngày bị khiển trách.

Hình thức sa thải:

  • Có hành vi trộm cấp, tham ô, tiết lộ bí mật công nghệ kinh doanh hoặc có hành vi khác gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của Công ty…
  • Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương, chuyển làm công việc khác mà tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật hoặc bị xử lỷ luật cách chức mà tái phạm.
  • Người lao động tự ý bỏ việc 5 ngày cộng dồn trong một tháng và 20 ngày cộng dồn trong một năm mà không được sự đồng ý của Giám Đốc hoặc không có lý do chính đáng.

Hình thức tạm đình chỉ công tác của người lao động:

  • Đối với những vi phạm có tính chất phức tạp, nếu xét thấy để người lao động tiếp tục làm việc sẽ gây khó khăn cho việc xác minh, Giám đốc công ty có quyền đình chỉ tạm thời công tác của người lao động.
  • Thời hạn tạm đình chỉ công việc không được quá 15 ngày, trường hợp đặc biệt cũng không được quá 3 tháng. Trong thời gian đó người lao độgn được tạm ứng 50% tiền lương trước khi bị đình chỉ công việc. Hết thời hạn tạm đình chỉ công việc, người lao động phải được tiếp tục làm việc.
  • Nếu có lỗi mà bị xử lý kỷ luật lao động cũng không phải trả lại số tiền đã tạm ứng.
  • Nếu người lao động không có lỗi thì người sử dụng lao động phải trả đủ tiền lương và phụ cấp lương trong thời gian tạm đình chỉ công việc.

III.             Trình tự xử lý kỷ luật lao động:

  • Nguyên tắc: căn cứ theo điều ...... Nghị định....../..../CP ban hành ngày ...../...../........
  • Mỗi hành vi vi phạm nội quy lao động chỉ bị xử lý một hình thức kỷ luật tương ứng. Khi người lao động có nhiều hành vi vi phạm kỷ luật lao động đồng thời chỉ áp dụng hình thức kỷ luật cao nhất tương ứng với hành vi vi phạm nặng nhất.
  • Không xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động vi phạm nội quy lao động trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác mà mất khả năng nhận thức hay khả năng điều khiển hành vi của mình.
  • Cấm mọi hành vi xúc phạm thân thể, nhân phẩm của người lao động khi xử lý kỷ luật lao động.
  • Cấm dùng hình thức phạt tiền thay việc xử lý lao động.
  • Cấm xử lý kỷ luật vì lý do tham gia đình công.

Trình tự xử lý vi phạm kỷ luật lao động:

Trước khi người sử dụng lao động ra quyết định kỷ luật lao động bằng miệng hoặc bằng văn bản đối với người vi phạm phải tuân theo các quy định sau:

  • Người sử dụng lao động phải chứng minh được lỗi của người lao động bằng các chứng cứ hoặc người làm chứng.
  • Đương sự phải có mặt và có quyền tự bào chữa hoặc nhờ luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác bào chữa. Nếu đương sự vẫn vắng mặt sau 03 lần thông báo bằng văn bản (mỗi lần cách nhau 10 ngày), thì người sử dụng lao động có quyền xử lý kỷ luật và thông báo quyết định lỷ luật cho đương sự biết.
  • Phải có sự tham gia của đại diện Ban chấp hành Công đoàn cơ sở, trừ trường hợp xử lý vi phạm kỷ luật lao động theo hình thức khiển trách bằng miệng.
  • Trong khi xử lý lỷ luật phải lập thành biên bản, bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
  • Ngày, tháng, năm , địa điểm xử lý vi phạm kỷ luật.
  • Họ tên, chức vụ của những người có mặt
  • Hành vi vi phạm kỷ luật lao động, mức độ vi phạm, mức độ thiệt hại gây ra cho công ty (nếu có).

Thẩm quyền xử lý kỷ luật lao động:

  • Giám đốc là người có thẩm quyển xử lý kỷ luật lao động. Khi Giám Đốc đi vắng sẽ ủy quyền cho Phó Giám Đốc (có giấy ủy quyền) có thẩm quyền xử lý kỷ luật lao động.
  • Đối với trường hợp xử lý vi phạm kỷ luật lao động phải ra quyết định bằng văn bản thì ghi rõ thời hạn kỷ luật. (Trừ hình thức khiển trách bằng miệng)
  • Đối với trường hợp sa thải, phải có quyết định kỷ luật và gởi biên bản xử lý kỷ luật đến Sở Lao động thương binh và xã hội trong thời hạn 10 ngày kể từ khi ra quyết định sa thải.

CHƯƠNG VII:

TRÁCH NHIỆM VẬT CHẤT VÀ ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

I.                   TRÁCH NHIỆM VẬT CHẤT:

  • Đối với trường hợp bất khả kháng thì không phải bồi thường.
  • Đối với những trường hợp vi phạm nội quy lao động lần đầu tiên gây ra hậu quả không đáng kể (dưới 5 triệu đồng), thì tùy theo nguyên nhân dẫn đến sai phạm mà công ty có mức phạt cụ thể, nhưng không vượt quá giá trị phần tài sản bị thiệt hại.
  • Đồi với những trường hợp người lao động vi phạm nội quy lao động, gây ra thiệt hại về tài sản của công ty có giá trị tương đồi lớn (hơn 5 triệu đồng), ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, công ty sẽ lập biên bản; căn cứ vào mức độ, giá trị bị thiệt hại, người gây thiệt hại sẽ phải bồi thường cho công ty một cách thỏa đáng.
  • Phương thức bồi thừơng thiệt hại: sẽ trừ dần vào lương hàng tháng của người lao động, mỗi lần trừ không vượt quá 30% lương tháng đó. Nếu trong thời hạn bồi thường mà người lao động có thái độ tích cực, khắc phục hậu quả do mình gây ra thì Công ty sẽ xem xét lại mức bồi thường.
  • Đối với trường hợp vi phạm nội quy lao động gây ra hậu quả nghiêm trọng, vượt quá khung quy định nêu trên, thì ngoài việc người lao động phải bồi thường ngay cho Công ty, mà còn có thể bị truy tố về trách nhiệm hình sự.

II.                ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

  • Nội quy lao động làm cơ sở để Công ty quản lý nhân viên, điều hành sản xuất kinh doanh và xử lý các trường hợp vi phạm về kỷ luật lao động của doanh nghiệp.
  • Các đơn vị thành phần, tùy thuộc vào đặc điểm sản xuất – kinh doanh của đơn vị, cụ thể hóa nội quy lao động cho phù hợp với thực tế, nhưng không được trái với Nội quy lao động của doanh nghiệp và pháp luật lao động cũng như pháp luật khác có liên quan của nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
  • Nội quy được phổ biến đến từng người lao động, mọi nhân viên có trách nhiệm thi hành nghiêm chỉnh nội quy này. Đấu tranh ngăn chặn mọi hành vi gây thiệt hại đến sản xuất kinh doanh, an ninh trật tự của doanh nghiệp.

...., ngày …… tháng …. năm

Tổng Giám Đốc"

Hy vọng bài viết trên sẽ giúp ích được cho các bạn trong quá trình xây dựng Nội quy cho công ty các bạn đang làm.

Chúc các bạn thành công !

(Nhân sự mới) Hr fresher khi mới vào nên làm gì ?

Hi các em ,

Có lẽ các em đang lần mò tìm đường đi. Anh nghĩ và hy vọng rằng các em sẽ không bị stress và từ bỏ thứ các em đã chọn - nghề Nhân sự. Mà thực ra nghề nào chả vậy, tất cả đều bị stress khi việc bị dồn. Vậy thì anh nghĩ có 1 số thứ các em nên làm sẽ tốt hơn cho các em. Chúng ta có thể tạm gọi là thủ thuật hay kinh nghiệm gì đấy. Trước hết anh muốn các em nhớ:
- Các em làm HR thì vẫn là nhân viên bình thường chứ không phải là quản lý này nọ gì nhé. Chỉ là nhân viên của phòng quản lý.
- Làm nhân sư là liên quan đến làm việc với con người nên giao tiếp là năng lực quan trọng. Có nó các em sẽ làm việc tốt hơn.
- Cuối cùng Nhân sự là tất cả những hoạt động làm sao để nhân viên làm việc tốt hơn vì thế các em đừng để mình giới hạn trong những thứ như tuyển dụng, đào tạo hay gì đó. Cứ hành động nào mà thúc đẩy nhân viên và công ty làm việc thì đó là nhân sự. Thúc đẩy sale mang doanh số về, thúc đẩy lao công quét được nhiều nhà hơn .... thì đó là HR.

Giờ là lúc chia sẻ những điều anh nghĩ các em nếu áp dụng được thì sẽ tốt:
1. Khi bắt đầu vào làm việc ở phòng HR hay bất cứ đâu thì việc đầu tiên là nên tự chủ động làm quen với mọi người. Các em nên gửi mail tự giới thiệu bản thân tới các trưởng bộ phận. Vì các em là HR nên sẽ không ai giới thiệu các em cả. Chả lẽ sếp tổng sẽ đi giới thiệu các em ?
2. Đọc quyển sách: Never eat alone để biết thêm các cách thức make friend với mọi người.

3. Hãy đi ăn trưa với mọi người.
4. Đừng bao giờ lấy nước và uống nước ở 1 chỗ.

5. Mỉm cười với tất cả những người gặp và đừng chờ họ chào các em. Các em hãy chủ động chào họ và tự giới thiệu bản thân nếu các em chưa quen.
6. Giúp đỡ người khác là 1 điều tốt. Các em có thể hỏi 1 câu hỏi đơn giản là : em có thể giúp gì được anh chị không ?

7. Lê la trà đá, quá xá với mọi người. Thỉnh thoảng rủ ai đó đi uống nước, đơn giản là cốc trả cũng ổn.
8. Đừng chỉ ngủ trưa một chỗ. Hãy tìm cách ngủ trưa nhiều chỗ khác nhau.

9. Thỉnh thoảng lượn 1 vòng qua tất cả các phòng ban. Mang theo 1 cốc nước để uống. Tốt nhất nên 1 ngày lượn 1 vòng. Có thể lượn vào trước giờ làm việc hoặc sau giờ làm việc nếu như các em ngại.
10. Lân la chào hỏi với những người đến sớm và người về muộn. Câu hỏi rất đơn giản. Anh đến sớm thế hoặc anh về muộn vậy ?

Các em thấy không, đây chỉ toàn là những mẹo giao tiếp. Khi các em thành công là lúc các em có thể đẩy công việc HR tiến lên 1 bước mới. Song song với việc tìm cách giao tiếp với mọi người, các em sẽ phải tìm cách tiếp cận với công việc. Vậy làm thế nào để tiếp cận với công việc:

1. Dọn dẹp, sắp xếp lại phòng nhân sự cho gọn gàng hơn. Các em hay bỏ ra 1 ngày hoặc 1 buổi để xin phép phòng cho các em sắp xếp lại gọn hơn. Việc này rất tốt. Ít nhất thì các em có việc để làm. Còn cao hơn đó là các em có cơ hội tiếp xúc với các giấy tờ, lịch sử Hr của công ty. Sẽ rất thú vị đấy.
2. Lục và sư tầm toàn bộ các tài liệu có tản mát trong hệ thống. Sắp xếp lại các tài liệu đó theo một cách thức nào đó theo ý hiểu của các em.

3. Tiến hành triển khai công việc thường nhật. Việc này em có thể viết mail hoặc hỏi sếp của em. Chú ý là các em phải chủ động xin việc nhé.
4. Hỏi han về khu vực để các tài liệu của lĩnh vực mình phụ trách nếu có thể bàn giao thì hảy hỏi xem tìm ai để bàn giao.

5. Thường thì nếu 1 công ty cần tuyển nhân sự mới với vị trí :
- Tuyển dụng thì: công việc cần làm lúc đầu có thể là thống kê lại số lượng người mới tuyển vào và các vấn đề như lương thử việc, lương chính thức, thời gian làm việc ... Việc này để nắm tình hình tuyển dụng của công ty. Sau đó là hỏi xem đang có job nào cần tuyển, yêu cầu ra sao. Tiếp là hỏi xem sẽ có job nào tuyển cần tuyển dụng trong tương lai. Hỏi và làm được 3 việc này anh nghĩ có thể coi như biết tuyển dụng.
- Đào tạo: Có lẽ câu hỏi đầu tiên nên hỏi là tình hình đào tạo hội nhập của công ty thế nào? Có được duy trì không ? Và nếu không thì các em nên chủ động lấy danh sách những người mới vào mà chưa được đào tạo để đào tạo hội nhập. Việc tiếp theo nên làm là xây dựng quy trình đào tạo hội nhập. Tạo ra một cái thư chào mừng trong đó giới thiệu sơ qua về công ty và các thứ người mới quan tâm trên 1 trang giấy là không thừa.

- Chính sách và lương thưởng: Anh nghĩ việc đầu tiên người vị trí này không phải là hỏi chế độ chính sách lương như thế nào mà nên hỏi câu hỏi bên mình đã có hệ thống theo dõi thông tin nhân sự chưa? Nếu chưa thì các em nên xây dựng lấy 1 cái theo dõi. Việc tiếp theo nên hỏi là hồ sơ lý lịch nhân viên ở đâu và nên xem qua xem nó thiếu hay thừa cái gì? Việc tiếp nữa hoàn thiện hợp đồng cho những người thiếu. Thường thì nếu chưa có người làm cái này thì công ty hay trễ việc làm hợp đồng lắm. Sau khi mọi người thân và hiểu rồi thì mới nên hỏi về lương hay những thứ nhạy cảm khác.
- Bảo hiểm xã hội: Câu hỏi anh nghĩ nên hỏi đó là có việc gì cần em làm không để em làm cho.

Tạm thời thế đã nhỉ. Các em thấy thế nào ? Các em đã biết một nhân sự mới nên làm gì chưa ? À, Đây là khóa học dành cho các bạn thực tập hoặc mới đi làm, các em tham thử xem sao: Fresher training. Biết đâu nó lại giúp được cái gì đó.

Quẩn quanh 1 kiếp người

Đôi khi tôi tự hỏi, ngoài sống vì bản thân, vì bố mẹ, vì những người thân yêu, tôi còn sống vì cái gì nữa ? Quẩn quanh 1 kiếp người quá. Đâu là chiến hữu, đâu khát vọng. Thôi thì răn mình vậy:

Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.

Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá, trồng rau, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, trẻ em chăn trâu, không dính líu gì tới vòng danh lợi.

Tư tưởng hẹp hòi thì hành động cũng hẹp hòi, thì nhiều thù ít bạn. Người mà hẹp hòi thì ít kẻ giúp

Cần - Kiệm - Liêm - Chính

Kiệm là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi.... Tiết kiệm không phải là bủn xỉn. Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu.

Cách dạy trẻ: cần làm cho chúng biết yêu Tổ quốc, thương đồng bào, yêu lao động, biết vệ sinh, giữ kỷ luật, học văn hóa. Đồng thời phải giữ toàn vẹn tính vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, tự động, trẻ trung của chúng, chớ làm cho chúng trở nên già cả.

Năm ngón tay cũng có ngón vắn, ngón dài. Nhưng vẫn là đều họp lại nơi bàn tay

http://mp3.zing.vn/bai-hat/Ai-Yeu-Bac-Ho-Chi-Minh-Various-Artists/ZWZA9D98.html

Lựa chọn cán bộ nguồn và các bộ tiêu chí – bộ 1 – 7 câu hỏi

Tình cờ hôm nay tôi đọc được một bộ câu hỏi về việc lựa chọn cán bộ nguồn. Đây là bộ của Trung Quốc. Cường nghĩ có thể chúng ta sẽ cần khi xây dựng bộ tiêu chí cán bộ nguồn. Cả nhà cùng xem nhé:

1. Có chí lớn không?

Những nhân vật ngôi sao tất nhiên có mong muốn mãnh liệt là thành tích. Hộ muốn thông qua việc hoàn thành công việc để tìm cơ hội phát triển không ngừng.

2. 2. Có nhu cầu giúp người khác không?

Nếu bạn phát hiện có rất nhiều người cần ý kiến, đề nghị, sự giúp đỡ của anh ta, thì anh ta chính là ngôi sao mà bạn muốn phát hiện. Vì điều đó cho thấy anh ta có năng lực giải quyết vấn đề và phương pháp tư tưởng của anh ta được mọi người tôn trọng.

3. 3. Có khả năng lôi kéo người khác hoàn thành nhiệm vụ không?

Chú ý xem ai có khả năng động viên người khác làm việc để đạt được mục tiêu, vì điều này thể hiện rõ anh ta có năng lực quản lý.

4. 4. Ra quyết định như thế nào?

Chú ý người có khả năng chuyển biến tư tưởng nhanh chóng, và thuyết phục được người khác. Một người quản lý tài giỏi, thương đưa ra quyết định nhanh chóng khi có đủ các thông tin liên quan.

5. 5. Có giải quyết được vấn đề không?

Nếu anh ta là một người luôn cố gắng, anh ta sẽ không bao giờ đi gặp ông chủ và nói: “Chúng ta có vấn đề”. Chỉ khi giải quyết song vấn để, anh ta mới đi tìm ông chủ báo cao: “Vừa rồi có một tình huống như thế chúng tôi đã xử lý thế này và kết quả như vậy.

6. 6. Có tiến bộ nhanh hơn người khác không?

Một nhân vật là ngôi sao thường thường hoàn thành công việc cấp trên giao càng nhanh càng tốt. Vì anh ta giỏi làm “xí nghiệp gia đình”, anh ta sẵn sàng nhận nhiệm vụ quá sức. Anh ta cho rằng mình phải đi sâu khám phá và không thỏa mãn với cái đã làm đơn giản.

7. 7. Có dám chịu trách nhiệm không?

Ngoài những điều trên đây, dám chịu trách nhiệm là một điều kiện then chốt của người quản lý.

Hi vọng mấy tiêu chí này sẽ giúp ích được ít nhiều cho anh chị em nhân sự chúng ta. Mời cả nhà cùng thư giãn với 1 bài viết nho nhỏ này: "Bản nhận xét cán bộ" trong dự án "Mang Chân Kinh về Đại Đường"

Những đứa con 9x thành thị

http://rio-lam.com/2012/05/24/9xthanhthi/

>> Định comment lại thôi. Định thôi rồi lại comment. Comment xong lại xóa đi. Xóa đi rồi lại comment ... Chốt lại là bản thân mình chưa lớn để nói về chủ đề này. Ngẫm lại càng ngày mình càng thấy mình chưa đủ lớn để nhận xét về cái gì đó. Đành dựa cột nghe các bạn bình luận vậy.

Tôi thuộc lứa đầu tiên của thế hệ mà người ta gọi là 9x. Có một thời gian tôi đã chán ngán tự hỏi vì sao mình lại thuộc về thế hệ này? Tôi nghe nhạc tiền chiến, đọc tiểu thuyết kinh điển, viết văn đúng chính tả và thích đọc thơ; hẳn có một điều gì đó sai, rất sai; hoặc với tôi, hoặc với cả một tập hợp những kẻ sinh vào những năm 90. Lúc đó nhìn ra xung quanh, tôi không nghĩ 9x sẽ làm được gì, ngoài một hệ thống ngôn ngữ cải biên quái gở tật nguyền và những trò quá lố – vốn cũng do 8x “nhập khẩu” vào. Thỉnh thoảng tôi cũng đọc những tin tức kiểu 9x phát minh bóng đèn biết phát sáng khi được bật công tắc, doanh nhân 9x, 9x đạt học bổng trường danh tiếng, v.v… Nhưng bỏ qua một bên những thành tích cá nhân nhất thời và phù phiếm đó, thế hệ của chúng tôi sẽ để lại gì ngoài một lớp tro bụi, gió thổi sẽ bay?

Lúc nghĩ như thế tôi chỉ là một đứa con nít tự cho phép mình già dặn với dăm ba câu nhạc Trịnh và vài quyển tiểu thuyết những năm 40-80. Bằng một sự tự tôn quá lố, tôi đã không nhận ra thế hệ của mình tuyệt vời như thế nào – thế hệ của pro, kute, của những phong trào mau “hot” chóng tàn, và của những giá trị luôn bị đập nát để nhìn lại.

9x là một thế hệ của mất mát và trống rỗng. Từ những năm tuổi thơ khi đất nước bắt đầu có của ăn của để, những đứa con thành thị đã không còn chỗ để chơi với thiên nhiên. Chúng tôi không có những khoảng đất, những bờ ao, hay ruộng lúa. Và chân thành mà nói, làm sao yêu thương một điều mà bạn không hề có? Thời thơ ấu của chúng tôi bị hắt hủi như một đứa con ghẻ lạc loài. Tuổi thơ đồng ruộng cánh diều của các cô chú anh chị đi vào sách giáo khoa, vào tranh vẽ bằng những lời ca ngợi, rồi sau đó họ bắt 9x học thuộc lòng. Còn tuổi thơ điện tử truyện tranh của chúng tôi trôi dạt trên facebook, trong những tấm hình “Ấu thơ trong tôi là…”, vốn không được một hệ thống chính thức nào thừa nhận. Tôi luôn tự hỏi có cần thiết phải chơi với dế trên cánh đồng để được công nhận là trẻ em đích thực hay không? Chẳng phải Doraemon đã thắp lên những giấc mơ thần tiên trong chúng tôi không kém một ông Bụt nào, và cuốn băng 5 anh em siêu nhân hay Mario đi cứu công chúa cũng có gì thua kém một chàng dũng sĩ diệt rồng trong cổ tích đâu? Chúng tôi không cần bám lấy những gì xưa cũ để có một tuổi thơ được cấp giấy chứng nhận thơ mộng.

Sau đó chúng tôi lớn lên, và hãy nhìn xem chúng tôi đã đem lại cho Việt Nam điều gì: 8x sex trước hôn nhân; và chúng tôi công khai điều đó; 8x chơi thuốc, và chúng tôi là người đã đưa chủ đề này lên mặt báo thường xuyên; 8x lộ hàng, và chúng tôi biến nó thành chuyện bình thường. 9x đã làm mọi thứ tệ hơn, hay đúng ra là chúng tôi đã phơi bày mọi thứ như nó vốn là, khi mà thế hệ 8x có công nhập khẩu văn minh Tây Âu vào nhưng lại không đủ can đảm để công khai thừa nhận những mặt trái và phải của nó? Bộ mặt hào nhoáng bóng lộn của món hàng “văn minh” đã được chúng tôi hồn nhiên phơi ra, dù cố ý hay vô tình, bằng tất cả tự trọng và liêm sỉ. Sau này nếu một nhà xã hội học nào đó rảnh rỗi nghiên cứu về chuyện này, tôi mong rằng ông ta sẽ không quên chi tiết: 9x là thế hệ đầu tiên mà cái tên của chúng tôi đã từng là một tính từ mang nghĩa tiêu cực. “Một đám 9x!”

9x là một thế hệ lạc lối. Những điều người lớn dạy cho chúng tôi đã bị thực tế tát vào mặt không thương tiếc. Tôi còn nhớ những năm mình học cấp II, quan hệ trước hôn nhân là một điều gì đó rất ghê tởm, những thằng con trai làm điều đó là những thằng khốn nạn, và tụi con gái – nếu không ngu thì cũng là đĩ điếm tạm thời. Lên cấp III, một buổi chiều bình yên, tôi đang online thì bà chị chạy vào hỏi, “Em nghĩ gì về gái quan hệ trước hôn nhân?” Tôi thắc mắc chị hỏi làm gì, chị trả lời, “Để làm khảo sát.” Nhưng tôi vẫn đoán được lí do thực sự. Những ngày sau đó tôi bắt đầu suy nghĩ. Người yêu của chị chắc chắn không phải một thằng khốn nạn, anh rất tốt; và chị thì tuyệt đối không phải “hàng.” Lại có một điều gì đó rất sai ở đây, một bánh răng trong hệ nhận thức của tôi bị lệch. Chúng tôi phải định nghĩa lại những gì người lớn đã nhồi nhét, đã vỡ mộng nhận ra sự trơ tráo giả dối trong những gì được học, nhưng chẳng ai cho chúng tôi biết mình nên học thứ gì khác. Chỉ có phủ nhận, mà không biết cách khẳng định; chúng tôi phải tự tìm đường cho mình, đi lạc là chuyện tất nhiên.

Và bạn trẻ à, chúng tôi đến bây giờ còn là một thế hệ của những điều tầm thường nữa. Người ta bảo chúng tôi sướng, vì gia đình đầy đủ, đất nước (có vẻ) thái bình. Quá sướng nên những nỗi đau của chúng tôi chưa bao giờ được ghi nhận. Giống như việc cả tuần bạn chỉ ăn đúng một cái bánh hamburger thì bạn cũng không được than đói khổ vậy. Vì bạn đã ăn hamburger, là đồ Mỹ, là hàng McDonald, là tập hợp những thứ phù phiếm và rẻ tiền nhưng dựa vào đó người ta khẳng định là bạn no, và không có tư cách than đói, vì đói là phải ăn khoai ăn sắn. Tôi có cô bạn đói đến mức ngất xỉu trong restroom, lúc tỉnh dậy cũng chỉ đơn giản là bắt bus về nhà một mình như chưa có gì xảy ra. Tôi có những người bạn cắn răng bỏ lại người yêu ở quê nhà, lên đường du học và kiếm một tấm vé định cư. Tôi có một người em tóc nhuộm nâu mặc váy voan, nửa đêm không có tiền nhà bị chủ đuổi, phải ngủ vạ vật ở bãi giữ xe WalMart. Nhưng chúng tôi không có tư cách than vãn; người yêu bỏ lại không phải để ra trận chiến đấu, đói đến xỉu nhưng trong ví vẫn có thẻ ngân hàng, ngủ ở WalMart là ngủ trong chiếc xe cũ nát, có thể bị bất kỳ gã nào đập vỡ cửa. 9x thành thị là như vậy đấy. Chúng tôi thiếu một khung cảnh lạc hậu cần đổi mới, một background nghèo khổ cùng cực, hay một cuộc chiến; một điều gì đó vĩ đại để nỗi đau của chúng tôi được công nhận hợp pháp. 6x-7x đã xây dựng (và tàn phá) đất nước sau chiến tranh. 8x đã đưa phương Tây vào trùm lên đầu người Việt. 9x, có chăng là một đất nước hoang mang, một lớp người lớn vật vã tự vấn đâu là trắng đâu là đen; trong khi chúng tôi điên cuồng mà sống với trắng đen lẫn lộn, kệ mẹ nó đời.

Và một khi những giá trị đã bị đảo lộn, một khi những đạo đức của người lớn truyền cho đã trở thành thứ sáo rỗng mục ruỗng, chúng tôi lắm lúc đã chạy lung tung vô nghĩa như một bầy thú không não.

Nói về bản sắc Việt, tôi thuộc về một thế hệ với phần đông những con người kêu gọi phản đối SOPA/ PIPA bằng tiếng Việt; kêu gọi Hoàng Sa-Trường Sa là của Việt Nam cũng bằng tiếng Việt; cho người Việt nghe, người Việt đọc, click một cái là ủng hộ cho ABC XYZ 5 xu, viết một comment dài lê thê một trăm lẻ hai chữ là bảo vệ chính kiến; một thế hệ tự tin và hoang mang, yên tâm và sợ hãi, …Tôi thuộc về một thế hệ hướng tới sự cao quý bằng con đường an toàn.

Trớ trêu thay, có con đường an toàn nào hướng đến sự cao quý bao giờ.

Khi chúng tôi mở miệng nói đến chính trị; người lớn bảo chúng tôi im đi, giữ thân mà sống. Khi chúng tôi nói đến lý tưởng và ước mơ, họ bảo chúng tôi làm ơn hạ cánh mơ mộng mà bò bằng cả 2 tay 2 chân. Năng lượng tuổi trẻ không còn biết dùng để làm gì, đành phải dạt vào bar, vào club, chụp hình tự sướng bằng Instagram, sáng tác vài bài hip hop cờ đỏ sao vàng yêu nước, quay vài bộ phim ngắn màu mè, làm vài clip hài, …

Nhưng tôi không buồn đâu bạn à. Chụp ảnh hở ngực hay quay clip sex, nhảy nhót điên cuồng trên bar hay ngồi cafe nghe nhạc Trịnh, đợi Diablo III hay đi nhặt rác ngoài biển; chúng tôi – 9x -đều đang sống, và cho người ta biết là chúng tôi sẽ sống. Với tất cả những tầm thường, trống rỗng, những lạc lối, hoang mang; chúng tôi vẫn đi tiếp.

Chỉ cần biết mỗi thứ một tí là đã đủ cho đời mình?

Có lẽ trên đời, ai cũng có lúc suy nghĩ về cuộc đời. Làm Nhân sự, tôi càng có điều kiện tiếp xúc với nhiều người và mỗi người một cuộc đời khác nhau. Đôi khi tôi tự hỏi : tại sao mọi người lại khác nhau đến như vậy.

KC

Hai tư giờ để sống, hai tư giờ để yêu và cả cuộc đời để thất bại

Chúng ta cùng thi đỗ đại học.Chúng ta cùng học một lớp. Chúng ta cùng làm một nghề. Buổi sáng chúng ta cùng ăn phở (nếu có tiền!). Buổi trưa chúng ta cùng ngồi một quán cà phê gà gật. Vậy, tại sao có những người sau này ra đời rất hạnh phúc thành đạt, có người giàu sớm, có người cả đời chỉ ăn đong và than vãn đã bị đặt nhầm chỗ?

Phép chia của tám giờ vàng ngọc

“Tôi đã đi làm mười bảy năm, chuyển qua năm sáu công sở và nhảy việc gấp đôi chừng đó nghề.Rốt cuộc ba năm nay, tôi là một bà nội trợ ở Hà Nội, là một freelance thực sự còn nghiệp dư hơn cả nghiệp dư. Và mỗi ngày cố gắng lắm cũng chỉ làm việc được không quá hai tiếng đồng hồ.

Thế mà có người nói với tôi, hai tiếng đồng hồ mỗi ngày ấy, em không chỉ kiếm ra tiền nuôi được cả gia đình đùm đề, còn xây dựng được thương hiệu cá nhân, thực hiện cả chục cuốn sách một năm, và tạo những điều thú vị nhỏ cho bản thân cũng như những người không quen. Điều ấy một người làm việc tám tiếng một ngày trong giờ hành chính hầu như không phải ai cũng làm được.Thậm chí, họ làm việc tám tiếng chỉ đủ kiếm tiền sống. Còn cả đời họ lẫn vào đám đông. Cũng không mang cái gì có ý nghĩa cho ai cả”.

Tôi suy nghĩ mãi về cuộc trò chuyện đó. Hẳn nhiên, người đối diện có vẻ tán thưởng quá đà! Tôi tin bản thân tôi không hề giỏi hơn ai, có vô số người khác xuất sắc trong đời sống. Nhưng phép tính hiệu suất cho mỗi giờ làm việc trong lời khen đó có một điều cốt lõi, chính là nỗi băn khoăn suốt từ khi tôi bắt đầu nhận tháng lương đầu tiên ở báo Hoa Học Trò, ngày vừa tròn 20 tuổi: Điều gì làm nên thành công của một con người?

Chúng ta cùng thi đỗ đại học.Chúng ta cùng học một lớp.Chúng ta cùng làm một nghề. Buổi sáng chúng ta cùng ăn phở (nếu có tiền!).Buổi trưa chúng ta cùng ngồi một quán cà phê gà gật. Vậy, tại sao có những người rất hạnh phúc thành đạt, có người giàu sớm, có người cả đời chỉ ăn đong và than vãn đã bị đặt nhầm chỗ?

Tại sao có người yêu nghề và người chỉ nhăm nhe nhảy việc?

Mỗi khi có ai rủ đi đâu, làm việc gì, nhờ vả nọ kia, rủ đi học ngoại ngữ, hỏi vì sao đã lâu không thấy mặt? Câu trả lời đầu môi của chúng ta luôn là: Tớ bận lắm, dạo này tớ rất bận!

Nhưng, bận rộn không phải lý do cho mọi vấn đề. Bạn có biết, Newton, Anhxtanh hay thậm chí những họa sĩ vừa mở triển lãm, những bà mẹ hạnh phúc bên con, những người thành công hay thất bại trên đường đời, họ cũng chỉ có 24 giờ trong một ngày để sống?

Bạn làm gì vào lúc… ngoài giờ làm?

Ngoài tám giờ vàng ngọc, ai cũng được nghỉ. Bạn có biết, cuộc đời bạn thành đạt hay thất bại lại được quyết định bởi chính khoảng thời gian nghỉ ngơi, từ 8-10 giờ tối mỗi ngày không?

Hiển nhiên, làm việc và học tập vào sáng và chiều đã mang lại cho bạn bằng cấp, công việc, thu nhập, một cái tên chức danh rất kêu trên danh thiếp, thậm chí một CV cực đẹp. Còn sau giờ làm, chúng ta thường sẽ dành thời gian để… ăn!

Ăn với bố mẹ. Ăn tối với bạn bè và lê la quán xá thêm tiếng đồng hồ nữa. Ăn với người yêu, về nhà với con, đi làm rồi thì đi ăn với sếp. Có người bạn tôi thổ lộ, ban ngày anh ta có thể vắng mặt ở cơ quan, sếp họp mà không gọi anh ta cũng không cảm thấy làm sao cả. Thế nhưng nếu đi ăn buổi tối, tiếp khách tối mà sếp không gọi, anh ta cảm thấy mình mất giá trị vô cùng!

Nếu trót lên làm sếp nhỏ, những bữa giao tiếp, những cuộc gặp gỡ buổi tối càng nhiều hơn, quán bia cũng mở cửa ngày càng khuya. Có những khi tôi nghĩ, các anh đàn ông đi uống bia và tiếp khách thực chất là kéo dài ngày làm việc ra thêm một ca nữa, chứ đâu phải vui thú hay có lợi gì cho chính bản thân họ?

Thường sau ăn, chúng ta sẽ làm những việc vụn vặt! Khoảng 8-10 giờ tối sẽ được bạn lần lượt dành cho việc: Học tiếng Anh trong một vài năm, học thêm bằng cấp phụ trong vài năm, tán gái trong một vài năm, giao tiếp thù tạc trong 2-3 năm, chẳng hạn. Rồi sau đó, có thể sẽ có thú vui, hay một kênh thể thao ngốn hết những tối của chúng ta.

Tôi từng thấy, có người bị mắc chứng nghiện ti-vi.Cứ đi làm về là bật ti-vi rồi để đó, phải có tiếng ti-vi thì mới yên tâm. Mặc dù mắt không hề ngó đến ti-vi, và đến trước khi đi ngủ, hỏi hôm nay ti-vi phát cái gì, họ đã hoàn toàn quên mất. Não của họ hoàn toàn ngủ yên trong khoảng thời gian này.

Vào lúc bạn dành khoảng thời gian cá nhân 8-10 giờ tối cho những việc vụn vặt, đọc sách, yêu đương, làm những thú vui nửa vời, cuộc đời bạn sẽ là tập hợp của một chuỗi những thứ vụn vặt ấy. Bao giờ thì bạn phát hiện thấy say mê và sở trường, niềm đam mê mãnh liệt của bạn từ trong những chuỗi hoạt động vụn vặt ấy?

Hay bạn nghĩ, chỉ cần biết mỗi thứ một tí là đã đủ cho đời mình?

Tám giờ tối, bạn làm gì, sẽ quyết định bạn là ai trong đời này?

Tôi tin điều ấy!

Ít nhất, tôi tin rằng những người luôn trong tình trạng thất bại về quản lý thời gian chính là những kẻ thất bại sâu sắc nhất trong cuộc đời này.

Nếu bạn hy sinh những điều vụn vặt, và dành thời gian hai tiếng mỗi tối cho một niềm say mê, bất kỳ điều gì khiến bạn hứng thú, và trung thành với nó, chỉ sau năm mười năm, bạn sẽ biết bạn là ai trong đời sống. Đơn giản chỉ bởi, trong hai tiếng ấy bạn phát huy được năng lực lớn nhất trong lĩnh vực và công việc bạn say mê nhất.

Hãy đọc sách, sách văn học hay sách kỹ năng, thậm chí là sách lịch sử, những giờ buổi tối ấy mang lại cho bạn những của cải vô giá trong tâm hồn, trở thành bản lĩnh văn hóa của một con người trong xã hội.

Nếu bạn dịch sách, đủ để bạn trở thành một dịch giả giàu kinh nghiệmvà tâm huyết. Bạn có biết vì sao Việt Nam có rất nhiều người giỏi ngoại ngữ, hàng năm có hơn mười nghìn thạc sĩ, tiến sĩ giỏi ngoại ngữ từ nước ngoài về, nhưng dịch giả giỏi chỉ đếm trên đầu ngón tay không? Dịch giả giỏi có thương hiệu và cá tính càng hiếm hơn!

Nếu mê mô hình, mê du lịch, mê chụp ảnh, những giờ tự đào luyện buổi tối, dành riêng cho đam mê ấy sẽ khiến bạn không bao giờ nói “Tôi rất bận!” với những đam mê của mình. Nếu bạn mê tiền, điều này thật tuyệt vời, bạn biết dùng hai tiếng đó để tìm kiếm gì rồi, đúng không?

Tôi sợ hãi mỗi khi thấy ai đó nói rằng, họ dành hai tư tiếng để chuyên tâm vào điều gì đó. Cho dù đó là hai tư tiếng để yêu, để sống, để hùng hục làm việc. Bởi nếu không dừng lại để suy nghĩ, dành thời gian để đào sâu vào sở thích cá nhân, tôi e rằng, bạn chỉ có một danh thiếp đẹp mà thôi, bạn không là ai có bản sắc và có tư chất riêng trong đám đông áo nhạt nhòa đi quanh ta mỗi ngày.

Vì rõ ràng trên đời này có hai loại người quá khác xa nhau: Những người vì tiền mà làm việc, có tiền rồi mới đi làm thứ họ thích! Và những người vì làm những việc họ say mê mà ra tiền, và sự nghiệp!

Trang Hạ (Theo Cóc đọc số 46, 9/2012)

Nếu bạn đã đọc đến tận đây, tôi nghĩ bạn nên đọc thêm 2 bài viết này : ) Tôi tin nó sẽ giúp được bạn ít nhiều gì đó.
Nỗi niềm nhà tuyển dụng – Giới trẻ và những thói xấu
Nỗi khổ chung của người làm tuyển dụng khi tuyển fresher (sinh viên mới ra trường)

Tranh nhau làm… người tử tế

Tranh nhau làm... người tử tế

Có một sự thật là: chưa bao giờ số lượng những người tìm mọi cách chứng minh mình là người tử tế lại đông như bây giờ, trong khi số lượng những hành động tử tế lại ít hơn bao giờ hết.
>> Vô cảm: Bia mộ cho tình yêu/ Những chiếc xe đạp kể chuyện mình/ Quê, phố, chiếc phong bì khất nợ và tấm thiệp báo hỷ/ Ký vãng về một Sài Gòn xưa...

Tử tế chính là lẽ sống cho cả cuộc đời của một con người. Để làm người tử tế quả là một thách thức khổng lồ. Nó đòi hỏi người ta phải sống vì cái đúng và vì người khác từng giờ, từng ngày và suốt cả cuộc đời, không bao giờ được phép ngưng nghỉ.

Sự tử tế sẽ biến mất ngay lập tức khỏi mỗi chúng ta khi chúng ta đố kị và ghen ghét người bên cạnh. Sự tử tế cũng biến mất ngay khi chúng ta cảm thấy khó chịu khi người được mình giúp lại không biết cách bày tỏ lòng biết ơn chúng ta, không biết cách tung hô sự giúp đỡ của chúng ta và không biết cách quảng cáo cho sự giúp đỡ của chúng ta.

Khi chúng ta tìm cách công khai lòng tốt của chúng ta với một ai đó, sự tử tế lại giảm đi một chút. Và đến lúc nào đó, khao khát đến quá mức được công khai lòng tốt của mình cho thiên hạ biết sẽ xóa đi toàn bộ lòng tốt ban đầu của chúng ta.

Ông cha ta đã nói tới việc tích đức và luôn luôn khuyên bảo con cái tích đức, chứ mấy ai khuyên con cái tích của. Tích đức và tích của là hai con đường ngược nhau. Tích của là gom góp tiền bạc vào túi của riêng mình, còn tích đức lại là ban phát sự tử tế cho thiên hạ.

Nhưng ngày nay, có một sự thật mà chúng ta đều phải thừa nhận: đó là có không ít những người lên tiếng về sự tử tế nhưng thực chất lại chỉ là làm sự "tử tế" cho cá nhân mình mà thôi. Nghĩa là những gì người đó thể hiện chỉ để cho thiên hạ biết đến họ, chứ không phải làm cho thiên hạ.

Một trong những yếu tố làm nên sự tử tế chính là sự hy sinh. Mà sự hy sinh đầu tiên và quan trọng nhất là hy sinh lợi ích của mình. Nghĩa là họ gom góp những cái gọi là sự tử tế để làm đầy cái túi cá nhân của họ mà thôi. Như thế, sự "tử tế" ấy chỉ là sự "tử tế" cho con người họ chứ đâu phải là sự "tử tế" cho thiên hạ.

Mấy năm gần đây, có không ít việc đau lòng xảy ra trong đời sống. Người sai thì đúng là sai rồi. Dù người sai ân hận cũng không quay ngược được thời gian nữa và chỉ còn cách sống nghiêm túc hơn, làm việc nghiêm túc hơn trong tương lai mà thôi. Nhưng qua những sự việc đau lòng của một hay một số cá nhân gây ra thì có một nỗi đau còn làm cho chúng ta đau hơn. Đó chính là nỗi đau về sự tranh nhau làm người tử tế của chúng ta. Trước kia, người ta thi nhau làm việc tốt, tranh giành làm việc tốt, còn giờ người ta tranh giành nhau dạy dỗ người khác và mắng nhiếc người khác để chứng minh mình là người tử tế. Bây giờ ai cũng có quyền nói về sự tử tế nhưng mấy ai tranh giành làm những điều tử tế đâu.

Nhân cái sai của người này hay người kia, chúng ta tràn lên phê phán, dạy dỗ và cả chửi rủa những người đã mắc sai lầm. Trong số những người lên tiếng, có những người luôn luôn tìm cách sống tử tế. Và việc lên tiếng hay nổi giận của họ chính là sự lên tiếng hay nổi giận của lương tâm con người mà chúng ta phải lắng nghe và suy nghĩ nghiêm túc để sống tốt hơn.

Nhưng bên cạnh đó, có quá đông sự lên tiếng của những người mà trong cuộc sống lâu nay họ là những kẻ tham lam, đố kị và chẳng sống vì ai. Nhưng họ lại là những người to tiếng nhất về sự tử tế. Sự tử tế của họ là sự tử tế của ngôn từ, chứ không phải sự tử tế của hành động. Và khi sự này, vụ nọ hết thời gian tính của nó thì sự tử tế của những người như vậy lại biến mất. Họ trở về đời sống thường nhật với những đố kị, ghen ghét, ích kỷ, vô cảm và chỉ thích nói về bản thân. Rồi đến một ngày nào đó, nhân một cơ hội nào đó, họ lại lên tiếng mắng nhiếc và dạy dỗ người khác một cách không tưởng tượng nổi. Cái sự "tử tế" như thế tôi gọi là "Mùa tử tế".

Mỗi năm có một hoặc vài ba mùa tử tế. Mà cái mùa tử tế này thì lúc nào cũng bội thu. Bội thu mùa lúa, mùa ngô làm cho đời sống con người thêm no ấm, còn bội thu "mùa tử tế" thì chỉ làm cho xã hội thêm tồi tệ mà thôi.

Nguyễn Quang Thiều